|
ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN CHỮ NGHĨA |
|
|
|
THANH VĂN |
Trước
hết xin mở đầu bài viết với "lời rao" rằng bài này viết ra không nhằm chỉ trích
cá nhân hay với mục đích chính trị ǵ hết mà thuần chỉ về mặt văn học chữ nghĩa
mà thôi. Tuy nhiên trong bài thế nào cũng có những đoạn dính dáng đến nơi chốn,
đến người và cả chế đ. Tất nhiên tất cả đều không phải là mục tiêu của tác gỉa
bài viết này. Điều mà tác gỉa muốn nhắm tới tà sự trong sáng của tiếng Việt và
nhất là thái đ của những người cầm bút nhất là những người cầm bút thường viết
bài trên báo chí hoặc viết sách dù là đang sống ở trong nước hay đang sống ở
nước ngoài.
Nước ta trong hơn 100 năm qua, theo với thời gian tiếng Việt từ khi có sự "tiếp
tay" của mẫu tự Latin và rơ ràng song song với đà tiến hóa của nhân loại ngôn
ngữ Việt và gọn hơn là tiếng Việt cũng đă có những thay đổi tích cực và tiến hóa
ngày càng tốt đẹp và phong phú hơn.
Về căn bản nước ta vốn chịu ảnh hưởng của nền văn hóa của Trung Hoa từ cả hàng
ngàn năm, lại đă từng dùng Hán tự làm thứ văn tụ chính thức hàng ngàn năm lẽ tất
nhiên trong ngôn ngữ của Việt Nam sự xuất hiện của những từ Hán lâu ngày đă bị
Việt hóa trở thành tiếng Hán Việt, nhiều chữ chúng ta "xài" quen đến đ khi "xài"
người ta không bao giờ thắc mắc đến nguồn gốc của nó, thí dụ các từ "cư trú", "địa
chỉ", "h khẩu" v..v..Cho đến nay chưa có ai làm thống kê để biết chắc rằng trong
tiếng Việt chúng ta dùng bao nhiêu chữ Hán. Người Nhật th́ họ đă có người làm
chuyện này và được biết là người Nhật hiện "xài" chừng 8,000 chữ Hán trong tiếng
Nhật. Tôi nghĩ rằng chúng ta có lẽ cũng tương tự như người Nhật và có thể đă
dùng cùng khoảng đó hay có khi c̣n nhiều hơn vài ngàn chưa biết chừng.
Trong hơn nửa thế kỷ gần đây do tiếp xúc nhiều hơn với người Tây phương, nhất là
khoảng vài chục năm trở lại đây do hoàn cảnh của đất nước khiến đến nay có đến
khoảng 3 triệu người Việt hiện sinh sống rải rác trên 200 quốc gia khắp nơi trên
thế giới. Sự tiếp xúc với các ngôn ngữ địa phương trong đó hai thứ ngôn ngữ có
ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới tiếng việt là tiếng Pháp và tiếng Anh. Tiếng Pháp th́
đă có mt qúa tŕnh "tiếp cận" với người Việt từ cả hơn trăm năm nay lẽ tất nhiên
ảnh hưởng của nó với tiếng Việt không phải là nhỏ. Tiếng Anh hiện là thứ tiếng
được sử dụng phổ biến và trở nên quen thuc khắp thế giới từ vài chục năm nay, vả
lại số người Việt hiện đang sinh sống ở nước ngoài đa số hiện sống ở các nước
nói tiếng Anh như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Canada v..v..Thêm vào đó trong mọi giao dịch
quốc tế hiện nay tiếng Anh cũng hiện chiếm thế "thượng phong" khiến người Việt
dù đang ở trong nước hay ở ngoại quốc nhiều người thấy có nhu cầu cần biết đọc,
biết viết cũng như biết nói tiếng Anh. Hơn thế nữa v́ tiếp cận với tiếng Anh
khiến nhiều từ trong tiếng Anh đă trở thành quen thuc khiến mọi người "xài" tự
nhiên và hiểu nghĩa ngay nên nó đă "hóa thân" thành tiếng Việt như mt số tiếng
Pháp khi xưa. thí dụ như tiếng Pháp th́ có các từ "sà pḥng" hay "sà bông", "xi
măng" v..v.. Tiếng Anh th́ có các từ như "down" (dùng trong tài chính có nghĩa
là "đặt cọc" thường thấy ở Hoa Kỳ), "book" (là đặt mua) dùng phổ biến ở nhiều
nơi trên thế giới v..v..
Nhưng dù sao th́ ảnh hưởng và sự "xâm nhập" của Hán tự vào tiếng Việt vẫn nhiều
nhất và rơ nét nhất và bất cứ ai chỉ cần để ư chút xíu cũng có thể kiếm ra hàng
chục từ gốc Hán trong tiếng Việt. Trong phạm vi bài viết này tác gỉa muốn giới
hăn trong khuôn khổ chỉ mt từ Hán Việt mà gần đây thấy xuất hiện khá nhiều trong
các bài viết trên báo chí thậm chí cả những văn kiện hay những lời tuyên bố của
các nhân vật đang có chức quyền ở trong nước và trên báo chí và cả những quảng
cáo ở nước ngoài. Đó là từ "ấn tượng". Đây là mt từ Hán Việt. Nó vốn có nguồn
gốc chữ Hán, tức là chữ Tầu. Lật tự điển Hán Việt của học gỉa Đào Duy Anh ra xem
th́ thấy cụ Đào giải thích như thế này :"ấn tượng là cái h́nh tượng do ngũ quan
cảm xúc mà c̣n in sâu vào óc", rồi cụ c̣n chú thích bằng chữ Pháp bên cạnh là
"impression".
Bây giờ lật tự điển tiếng Tây ra xem chữ Impression nghĩa là ǵ th́ trong tự
điển Pháp Việt của nhà xuất bản Khoa Học Xă Hi Hàni và do Lê Khả Kế chủ biên in
lần thứ Tư năm 1997 tại Saigon th́ thấy có tới 6 nghĩa khác nhau như sau:
1/ Ấn tượng thí dụ Faire bonne impression = Gây ấn tượng tốt.
2/ Cảm giác; cảm tưởng Impression de froid = Cảm giác lạnh.
Impression de voyage = Cảm tưởng du lịch.
3/ Sự in; lần in thí dụ Impression des étoffes = Sự in vải.
L'Impressiond'un livre = Sự in một cuốn sách.
La derniere impression d'un livre = Lần in cuối của cuốn sách.
4/ (họa)Lớp màu nền không ghi thí dụ.
5/ (cũ) Dấu thí dụ Impression des pas = Dấu bước chân.
6/ (cũ) Ảnh hưởng không có thí dụ.
Từ Impression trong tiếng Anh cũng viết tương tự như tiếng Pháp; bây giờ chúng
ta mở tự điển Anh Việt của cụ Nguyễn văn Khôn ra xem th́ thấy cụ giải thích có 5
nghĩa khác nhau như thế này :
1/ Sự in, đóng (dấu v..v..); sự in, ấn loát (sách v..v..)
2/ Dấu in. Vết in (của con dấu v..v..) Impression of boots in the sand = Dấu
giầy trên cát.
3/ Dấu, lằn chữ in sau trang giấy.
4/ Số (sách, báo v..v..) xuất bản mt lần. Second impression = Lần xuất bản thứ
hai.
5/ Cảm tưởng (tốt, xấu đối với người nào). Good, bad impression = Cảm tưởng tốt,
xấu. Tell me your impression = Hăy nói cho tôi biết những cảm tưởng của anh.
Trong Tự điển Anh Việt của Viện Ngôn Ngữ Học thuộc Trung Tâm Khoa Học Xă Hội và
Nhân Văn Quốc Gia, ấn bản năm 1994 th́ có tới 7 nghĩa khác nhau như sau:
1/ Tác động sâu sắc lâu dài vào trí óc và t́nh cảm của ai. Thí dụ :
His first speech as President made a strong impression on his audiences = Bài
diễn văn đầu tiên của ông với tư cách là Tổng Thống đă gây mt ấn tượng mạnh mẽ
đối với người nghe.
Create unfavourable impression = Tạo ra mt ấn tượng không có lợi.
2/ Ư nghĩ, t́nh cảm hoặc ư kiến (không rơ ràng hoặc không chắc chắn); cảm giác;
cảm tưởng. Thí dụ :
My general impressionwas that he seemed a pleasant man = cảm tưởng chung của tôi
là anh ta có vẻ là mt con người dễ chịu.
I had the distinct impression that I was being followed = Tôi có cảm giác rơ rệt
là lúc đó tôi đang bị theo dơi
One's first impression of the new headmaster = Cảm tưởng đầu tiên (tức là phản
ứng ngay tức khắc) về ông hiệu trưởng mới.
He gives the impression of being a hard worker! = that he works hard = Nó tạo
cho người ta có cảm tưởng nó là mt người làm việc rất vất vả, tức là có vẻ như
là nó làm việc tích cực.
"I always thought you were a nurse" "I wonder that how you got that impression?"
= "Tôi vẫn cứ tưởng chi là y tá" "Tôi thắc mắc là tại sao anh lại có cảm tưởng
ấy?"
3/ Vẻ ngoài hoặc ấn tượng của ai/cái ǵ . Thí dụ :
The room's lighting conveys an impression of spaciousness = Cách bố trí ánh sang
của căn pḥng đem lại một ấn tượng rộng răi.
4/ Cách bắt chước khôi hài ứng xử hoặc lối nói của mt người nổi tiếng. Thí dụ:
The student did some marvellous impression of the teachers at the end-of-term
party = Tại cuc liên hoan hết học kỳ, sinh viên đă có những tṛ nhại các giáo
viên rất giỏi.
5/ Dấu do ấn mạnh mt cái ǵ vào mt mặt bằng để lại; dấu in; dấu hằn. Thí dụ :
The impression of a leaf in a fossil = Dấu vết của mt chiếc lá trong một hóa
thạch.
6/ Sự in lại một cuốn sách với nội dung ít hoặc không sửa đổi. Thí dụ :
The fifth impression = In lần thứ năm.
7/ (trong thành ngữ) Be under the impression that ...có ư nghĩ (thường sai lầm)
rằng ...Thí dụ:
I was under the impression that you were coming tomorrow = Tôi cứ tưởng rằng
ngày mai anh mới tới.
Gần đây ở trong nước dường như "người ta " thích dùng từ "ấn tượng". Cái ǵ cũng
"ấn tượng" hết chẳng hạn khi muốn nói "cô kia ăn mặc rất đẹp" th́ người ta nói "cô
kia ăn mặc rất ấn tượng". "Cành hoa mai do ông A trang trí ở pḥng khách rất ấn
tượng". Chiếc xe Ford loại Laser đang bầy bán trong salon kia rất "ấn tượng"
v..v.. Tức là cái ǵ cũng có thể "ấn tượng" được hết !
Nhân ngày đầu năm dở tờ báo "Tân Niên" Việt Luận xuất bản ở Sydney, phát hành
khắp nước Úc ra đọc thấy có bài viết về du lịch đó đây của Hoàng Dương. Bài viết
có h́nh đi kèm thu gọn trong mt trang báo mà mt phần ba cuối trang là quảng cáo
của mt công ty tài chính; trên đầu trang là phần tŕnh bầy của đề mục. Tất cả (kể
luôn cả h́nh ảnh) th́ phần c̣ lại dành cho bài viết thực sự chỉ hơn nửa trang
báo khổ A3 một chút, tức là nếu in vào giấy khổ A4 th́ có lẽ chỉ hơn 1 trang một
chút hay cùng lắm là một trang rưỡi th́ hết. Ấy thế mà tác gỉa đă dùng đến năm
(5) lần từ "ấn tượng": lần thứ nhất ngay đầu đề của bài viết, 4 lần sau từ giữa
đến cuối bài viết.
Với một bài viết tương đối ngắn như thế mà xài đi xài lại tới 5 lần mt từ th́
nói theo kiểu mấy cô dậy Việt ngữ ở các trường Việt ngữ chiều thứ Bẩy th́ đó là
xài điệp ngữ, mà lại xài quá nhiều, nếu nhờ các cô cho điểm nhất định sẽ bị các
cô cho điểm thấp là chắc.
Năm chữ ấn tượng : ngoài chữ thứ nhất ngay đầu đề của bài viết.
Chữ thứ hai xuất hiện trong câu "Phải đến lúc đi thăm thú những nơi trong khu
phố cổ ở Barcelona tôi mới thấy ấn tượng về thành phố này".
Chữ thứ ba xuất hiện trong câu "Barcelona c̣n nhiều kiến trúc khác khá ấn tượng,
như Barri Gotic hay La Pedera".
Chữ thứ tư xuất hiện trong câu "Tôi có một ấn tượng rất đẹp khi lên tới sân vận
đng Olympic Barcelona".
Chữ thứ năm xuất hiện ngay câu cuối bài viết "Barcelona để lại trong tôi mt ấn
tượng dung dị".
Bây giờ chúng ta thử t́m hiểu xem táxc gỉa mỗi lần dùng chữ ấn tượng là định
diễn tả ư gỉ?
Chữ Thứ nhất thấy ngay là nếu không dùng từ ấn tượng ta có thể thay thế bằng chữ
"cảm tưởng" và đề tài có thể viết lại là "Cảm tưởng về Barcelona"
Chữ thứ hai có thể giữ nguyên theo nghĩa thứ 3 trong tự điển của Viện Ngôn Ngữ
Học ở trên, hay nghĩa thứ hai trong tự điển Pháp việt của nhà xuất bản KHXH ở
Hàni.
Chữ thứ ba tôi đoán là tác gỉa muốn diễn tả ư tưởng rằng rất dẹp, đẹp đến đ tác
gỉa phải nhớ măi ! Thế th́ trường hợp này ḍ lại các định nghĩa ghi trên cả 3
cuốn tự điển trên đều không thấy ghi ra, nói khác đi (theo kiểu các cô dây tiếng
Việt ở các trường dậy Việt ngữ chiều thứ bẩy) th́ phải "phê" là tác gỉa đă dùng
"sai" từ. Trường hợp này phải viết là "đẹp", "xuất sắc", "tuyệt đẹp", "tuyệt mỹ",
v..v.. chứ chả ấn tượng chút nào hết. Câu viết như vậy phải viết lại là
"Barcelona c̣n nhiều kiến trúc khác khá đẹp (hay khá xuất sắc)".
Chữ thứ tư có thể dùng lại với nghĩa của chữ thứ nhất đă dùng là "cảm tưởng"
thay v́ "ấn tượng".
Chữ chót thứ 5 th́ xài chữ "cảm giác" và câu viết như thế sẽ viết là "Barcelona
để lại trong tôi mt cảm giác dung dị".
Tóm lại là nếu tác gỉa bài viết hiểu rơ nghĩ của từ ḿnh "xài" th́ :
1/ Tránh được cái lỗi rất "sơ đẳng" của bất cứ người viết nào cũng phải tránh là
dùng "điệp ngữ" không đúng cách.
2/ Diễn tả ư tưởng một cách chính xác hơn.
3/ Làm cho bài viết hấp dẫn người đọc và trở nên có gía trị hơn.
Đến đây tôi muốn ghi thêm là chính sự sử dụng từ nhất là từ Hán Việt một cách
bừa bải mà rất nhiều người (đa số là ở trong nước) đă vấp phải những sai lầm
tương tự như trong bài viết nêu trên. Chúng ta dù đang sống ở trong nước hay ở
hải ngoại, dù là nhà báo chuyên nghiệp hay "tài tử", nhà văn, nhà viết kịch v..v..
nói chung là những người ít nhiều có dính đến hoạt đng văn hóa, hoạt đông phải "xài"
đến chữ nghĩa th́ có bổn phận phải "viết cho đúng". Nếu c̣n hơi mù mờ về nghĩa
th́ phải lật tự điển ra coi lại. Bởi bài ḿnh viết ra không phải chỉ để cho
riêng ḿnh đọc, nhất là đă đem đăng lên mặt báo tức là có mục đích rất rơ ràng
là để cho nhiều người đọc th́ nhất định là phải viết cho "đàng hoàng", viết cho
"đúng" không thể "phóng bút" viết bừa, viết cho "sướng tay" rồi "ai muốn nói sao"
cũng mặc. Đó là thái độ thiếu trách nhiệm cần chấm dứt. Bất cứ ai đă đi vào con
đường "viết lách" tất phải chấp nhận cái định luật "bất thành văn" này. Trong
khi Việt Nam ta chưa có một "Hàn Lâm Viên" về ngôn ngữ để thống nhất việc tiêu
chuẩn hóa ngôn ngữ th́ chuyện phải thận trọng của các người viết bài phổ biến
trên báo chí, sách vở là điều ai đă tham gia đều phải thận trọng, đừng để lớp
trẻ đang học tiếng Việt đang cần được học thứ tiếng Việt trong sáng và chính xác
bị rơi vào cảnh u u minh minh không biết đường đâu mà rờ mà theo.
Thanh Văn