Tản  Mạn cuối năm


Về sự tích bánh Dầy bánh Chưng



THANH VĂN

Cuối năm ta Qúy Mùi, tức là cuối năm Âm Lịch th́ trong thực tế đă gần hết tháng Giêng Tây, tức là Dương Lịch 2004. Hơn thế nữa dịp này ở các nước nằm bên trên đường xích đạo, có nghĩa là ở Bắc bán cầu th́ đang là giữa mùa Đông, nhiều nơi tuyết đang đổ trắng cả đất trời như Canada và miền Bắc Hoa Kỳ, vùng Cali nơi dân "Mít" quy tụ nhiều nhất, ngoài xứ Việt Nam (tất nhiên) tuy tuyết không rơi nhưng nhiều vùng cái lạnh như ở Bắc Cali cũng làm người ta co ro run rẩy suưt xoa mỗi khi cần phải bước ra khỏi nhà để đi đâu đó hay đến sở "cầy" trả nợ cơm áo. Trong khi đó th́ ở "Miệt Dưới", tức là vùng Nam bán cầu, nơi đông dân "Mít" nhất là nước "Ốt-x-tra-li-a"(đọc theo kiểu các đỉnh cao trí tuệ ở "Hàlội") thời tiết lại đang là giữa nùa hè, nhiều ngày phải nói là "nóng chảy mỡ", nhất là lúc này thống kê của nhà nước Úc cho hay là trên 50% dân Úc hiện ô-vờ-uyâu, Thành thử ra cùng một thời gian nhưng ở khác nơi trên địa cầu do ảnh hưởng của vị trí của trái đất với mặt trời khiến thời tiết khác nhau, sự kiện này khiến mấy ông nhà thơ, nhà văn lợi dụng cơ hội "vẽ vời" "bầy đặt" viết lách, mần thơ, viết văn. Người th́ than lạnh, than cô đơn như nhà thơ Phạm văn Tốt, một nhà thơ gốc Quốc Gia Hành Chánh hiện sống ở thành phố Portland, Tiểu bang Oregon xứ cờ Hoa viết như thế này :
 

Xuân đất khách quanh nhà sao vắng vẻ,
Cây trơ cành sương truyết trắng giăng giăng.
Vài tiếng chim gọi đàn buồn cô lẻ,
Mây đầy trời gây nỗi nhớ bâng khuâng.
Sau khi than văn rằng Xuân ly hương "sao vắng vẻ" rồi thi sĩ c̣n thổ lộ nỗi ḷng nhớ nhà, nhớ lại người xưa cảnh cũ


Ta ở đây chiều cuối năm hoang lạnh,
Hồn thẫn thờ nhớ lại cảnh vườn xưa;
"Gần khóm trúc nồi bánh chưng thơm ngát,
Mẹ đang ngồi đun bếp giữa trưa trưa.


Đang than thở lạnh lẽo, cô đơn chợt nhà thơ chuyển "giọng" sàng xê sang món ăn ngày tết là bánh chưng, chợt nhớ đến câu hỏi của bầy trẻ nhỏ thắc mắc rằng tại sao người ta lại cứ phải gói bánh chưng h́nh vuông rồi làm bánh dầy h́nh tṛn mà không ngược lại ? Và nguồn gốc của hai loại bánh này từ đâu mà có ?
Chuyện cũ rồi bất chợt nhắc đến trí nhớ không c̣n minh mẫn như xưa bèn phải lật sách ra xem lại ngơ hầu thỏa măn thắc mắc của bầy trẻ.


Truyện bánh dầy bánh chưng vốn ghi ở trong sách "Lĩnh Nam Chích Quái" do Trần Thế Pháp biên soạn rồi Vũ Quỳnh và Kiều Phú bổ chính về sau, Đến đây xin mở một dấu ngoặc viết đôi chút về chữ "chích". Có người viết là "trích quái", nói theo học gỉa Thái Văn Kiểm th́ viết như thế là sai bởi chữ "chích" đây có nghĩa là hái qủa, thu lượm. Chữ chích trong Hán tự gồm bộ "thủ" (là tay), bên cạnh chữ "thứ". C̣n chữ "trích" như trong các chữ trích lục, trích tuyển, "Tây" dịch là extract, Cuốn "Lĩnh Nam Chích Quái" xuất hiện từ đời nhà Trần, có nghĩa là những chuyện kỳ lạ thu góp lượm lặt được ở cơi Lĩnh Nam, tức là miền Nam dăy núi Ngũ Lĩnh, tức là miền Hoa Nam và miền Bắc Việt Nam ngày nay. Đây là địa bàn sinh sống của các sắc dân Bách Việt ngày xưa.


Cho tới nay người ta t́m ra có đến 9 bản "Lĩnh Nam Chích Quái" khác nhau, mỗi bản ghi chép chừng vài chục chuyện tích. Số chuyện tích trong các bản này nhiều ít khác nhau : Ít nhất th́ có 22 chuyện tích, nhiều nhất th́ có tới 45 chuyện tích, nhưng có một điều thống nhất là ở phần đầu th́ bản nào cũng ghi lại truyện "bánh chưng", đó là "chưng bính truyện" hay là "chưng bính cổ truyện". Chưng có nghĩa là nấu thật lâu với nước thường được thêm vào luôn luôn để giữ không cho nước cạn, mực nước bao giờ trong nồi bánh Chưng cũng ngập lớp bánh, do đó khi nấu bánh Chưng người ta luôn luôn có đặt một ấm nước hoặc nồi nước nấu cho sôi kế bên, để khi thấy mực nước trong nồi bánh giảm xuống th́ có nước sôi sẵn để châm thêm khi cần. Nồi bánh Chưng phải nấu liên tục suốt đêm cho thật nhừ. Bính là bánh.

Cổ truyện là chuyện cũ tích xưa.


C̣n bánh Dầy là thứ bánh tṛn mập ú, dầy là trái với mỏng. Sau đây là chi tiết của truyện bánh Dầy và bánh Chưng.
Sau khi vua Hùng Vương thứ Sáu nhờ có Phù Đổng Thiên Vương giúp sức phá tan giặc Ân. Phù Đổng Thiên Vương là truyện tục truyền tất nhiên là khó có thể là truyện có thật, nhưng hiện nay c̣n đền thờ ở làng Gióng, tên chữ là làng Phù Đổng, hàng năm đến ngày mùng 8 tháng tư là ngày mà theo tích xưa Phù Đổng Thiên Vương sau khi dẹp tan giặc Ân đă bay về trời, lại có ngày hội lớn ở làng Phù Đổng, gọi là hội đức Thánh Gióng. "Thiên hạ" trở nên thái b́nh, Đức vua bèn triệu 22 vị quan Lang (các Hoàng Tử con vua) mà phán rằng :"Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ư, cuối năm nay các con hăy mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên Vương, cho ta được tṛn đạo hiếu, ai lănh giải nhất th́ sẽ được ta truyền ngôi cho". Các vị Quan Lang (Thời các vua Hùng con trai tức là Hoàng Tử thi phong làm Quan Lang, con gái tức là công chúa th́ gọi là Mị Nương) đều gia sức đi t́m của ngon vật lạ khắp trên cạn, dưới biển đem về chế biến thành các món vô cùng trân qúy để dâng lên nhà vua.


Riêng có vị công tử thứ 18 tên là Lang Liêu, bà mẹ vốn bị nhà vua ghẻ lạnh rồi buồn v́ cô đơn mà chết. Không có người nâng đỡ công tử Liêu khó ḷng xoay sở thành đêm ngày lo lắng, mộng mị bất an. Một đêm kia nằm mộng thấy có thần nhân tới mách bảo như sau :"Các vật trên trời dưới đất và mọi của qúy trong thiên hạ không ǵ bằng gạo nếp. Gạo nếp có thể nuôi người khỏe mạnh mà ăn không bao giờ chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, một thứ h́nh tṛn tượng trưng cho Trời, một thứ h́nh vuông tượng trưng cho Đất, như thế là đúng với quan niệm "Thiên viên Địa phương" (Trời tṛn Đất vuông). Dùng lá chuối hay lá rong bọc ngoài, bên trong cho mỹ vị đầy đủ để ngụ ư công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ". Công tử dâng các bánh này lên Đức vua thế nào Đức vua cũng hài ḷng.


Lang Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ mà nói :"Đây là Thần linh giúp ta vậy"!Nói rồi bèn theo lời dặn trong giấc mộng mà làm, chọn thứ gạo nếp trắng tinh từng hột nguyên vẹn tṛn trịa, không bị vỡ, vo với nước suối thật trong, lấy lá chuối xanh bọc chung quanh thành h́nh vuông, bên trong cho trân cam mỹ vị vào làm nhân, để tượng trưng cho vạn vật trong trời đất (gồm cả thực vật và động vật), sau đó bỏ vào nồi lớn đổ nước ngập và nấu sôi cả đêm cho thật nhuyễn, nấu cho đến khi trời thật sáng mới thôi, gọi bánh đó là bánh Chưng, bánh h́nh vuông tượng trưng cho "Đất". Lang Liêu lại lấy gạo nếp, nấu chin, gĩa cho nhuyễn, nặn thành h́nh tṛn, không có nhân, tượng trưng cho "Trời" và gọi là bánh Dầy. Thành ra hai thứ bánh đi với nhau có đôi, có cặp, có âm có dương phù hợp với vũ trụ quan và nhân sinh quan thời bấy giờ.


Đến ngày hẹn vua ra lệnh cho các con bầy các vật tiến cúng lên, sau khi tế lễ, nhà vua dùng thử mọi món để phán xét, nhà vua thấy sơn hào hải vị nem công chả phượng, tất cả mọi món trân qúy trên đời không thiếu món nào hết, các món ăn của ngon vật lạ bầy la liệt. Duy một ḿnh Lang Liêu chỉ dâng lên có hai thứ bánh làm bằng nguyên liệu chính là gạo nếp là bánh Dầy và bánh Chưng mà thôi. Vua kinh ngạc nhưng nếm thử thấy rất ngon miệng lại ăn không chán bèn tấm tắc khen ngợi và hỏi Lang Liêu th́ công tử bèn tâu thực lên là có thần nhân báo mộng khuyên nên làm bánh như thế. Nghe xong vua bèn phán quyết :"Lang Liêu được giải nhất". Vua cũng truyền cho toàn dân Lạc Việt từ đó làm bánh Dầy và bánh Chưng vào mỗi dịp Tết để cúng tổ tiên. Ít lâu sau vua truyền ngôi cho công tử Lang Liêu. Sau khi lên ngôi Lang Liêu đổi tên là Tiết Liêu. C̣n lại 21 vị công tử khác được vua phong cho giữ các phiên trấn làm thành các phiên quốc của nước Văn Lang.


Từ đó hàng năm người Việt khắp nước mỗi khi tết đến nhà nhà gói bánh Chưng và gĩa cơm nếp làm bánh Dầy, hai thứ bánh "cổ truyền" này xuất phát từ đời vua Hùng Vương thứ 6 tức là vào khoảng năm 500 trước công nguyên, có nghĩa là đă hơn 2,500 năm nay(1). Có lẽ trong lịch sử các món ăn trên trái đất này chưa có món ăn nào có lịch sử lâu như món bánh Chưng và bánh Dầy của Việt Nam ta như vậy.


Nhân dịp cuối năm Qúy Mùi sắp hết dịp tết Giáp thân sắp tới người Việt khắp nơi dù đang ở trong nước hay đang ở bất cứ nơi nào trên thế giới miếng bánh Chưng vẫn là món ăn nhắc nhở cho mọi người nhớ về cội nguồn của dân tộc, một cội nguồn mà bất cứ người Việt nào cũng trân qúy và hănh diện.

Thanh Văn

Ghi chú : Theo các sử gia như Trần Trong Kim trong Việt Nam Sử Lược và một số sách sử khác thi thời Hồng Bàng tức là 18 đời vua Hùng Vương kéo dài từ 2897 BC đến năm 258 BC, tức là khoảng gần 2639 năm, tính trung b́nh th́ mỗi vị vua Hùng song tới 146 tuổi, đó là một điều xem ra có vẻ khó tin và thiếu căn bản khoa học. Theo sử gia Ngô Th́ Sĩ th́ trong tác phẩm Việt Sử Tiêu Án được viết vào năm 1772-1775 th́ ông cũng tỏ ra nghi ngờ chi tiết thiếu tính khoa học trên. Gần đây theo Việt Sử Lược (hay Đại Việt Sử Lược) (tác gỉa khuyết danh) viết vào khoảng thế kỷ thứ 14 (1377-1388) có ghi vào thời Chu Trang Vương bên Tầu (696-682 BC), có người ở Bộ Gia Ninh, có thuật lạ chinh phục được các bộ lạc khác, tự xưng là Hùng Vương, đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền được 18 đời đều xưng là Hùng Vương đến năm 258 BC, tức là khoảng 438 năm. Xem ra chi tiết này có vẻ hợp lư và hợp với hiểu biết khoa học ngày nay hơn.