|
Nói đến chuyện tin và không tin th́ hồi xưa khi c̣n đi học ở
trong nước khi đọc cuốn
Cổ học tinh hoa, có một chuyện về nhân vật Tăng Sâm bên Tầu khá phổ
biến trong dân chúng. Chuyện kể rằng bà mẹ Tăng Sâm vốn biết rất rơ về
tính nết và tư cách của con trai ḿnh, một hôm đang ngồi dệt vải th́ có
người đến báo rằng Tăng Sâm giết người, bà nghe rồi điềm nhiên ngồi tiếp
tục dệt vải, bởi bà tin chắc rằng chuyện đó là chuyện không thể xẩy ra với
con trai bà. Nhưng lát sau lại có người nữa đến báo tin “Tăng Sâm giết
người!”
Lần này bà ngừng tay dệt một lát, suy nghĩ :”không lư đó là
chuyện thật ?” nhưng bà vẫn không tin, bà lại tiếp tục công việc đang dang
dở. Một lúc sau nữa, lại có người đến báo “Tăng Sâm giết người !” Sau khi
nghe báo tin tới lần thứ ba th́ bà mẹ Tăng sâm quăng thoi, bỏ khung cửi,
leo qua tường mà chạy trốn.
Ḷng tin của bà mẹ Tăng Sâm vốn rất vững chắc, bà biết rất rơ
bản tính của con bà là người hiền lành, không thể làm chuyện ác đi giết
người được. Thế mà “tin” con trai bà giết người đă liên tiếp nhiều lần đến
tai bà khiến ḷng “tin” trong bà bị lung lay và cuối cùng đến độ phải thay
đổi hoàn toàn, từ “không tin” thành “phải tin”. Từ câu chuyện trên người
ta suy ra rằng nếu một sự kiện được nhắc đi nhắc lại nhiều lần th́ hậu quả
có thể làm thay đổi chủ ư của người nghe. Sự thay đổi này có thể đạt đến
mức hoàn toàn trái ngược với những ǵ mà người nghe đă từng tin tưởng
trước đó.
Thời Đệ nhị thế chiến tay tổ về tuyên truyền của Đức Quốc xă
Paul Joseph Goebbels (1897-1945) đă
hiểu rất rơ ảnh hưởng ghi trên nên đă áp dụng triệt để trong sách lược
tuyên truyền của ông ta. Ông ta đă dùng mọi cách để phổ biến các tin mà
ông ta muốn dân chúng tin theo đường lối của chính phủ Đức quốc xă thời đó
bằng cách nhắc đi nhắc lại thật nhiều lần, trong mọi hoàn cảnh, bằng mọi
phương tiện truyền thông mà ông ta có trong tay khiến dân chúng nghe riết
đều tin là đúng. Cụ thể là ông ta đă từng tuyên truyền rằng người Do Thái
là loại người đáng bị tiêu diệt trên qủa địa cầu, họ là thành phần hoàn
toàn chỉ đem ảnh hưởng xấu đến cho sắc dân Đức thuần chủng để làm lư cớ
cho việc tàn sát người Do Thái của Đức thời bấy giờ.
Sau thế chiến thứ hai phương pháp của Goebbels đă được đảng
cộng sản quốc tế học theo và áp dụng khắp nơi trên thế giới. Đặc biệt là
tại Việt Nam, người cộng sản đă tuyên truyền dai dẳng bằng mọi phương tiện
mà họ có rằng chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa “siêu việt”, là con đường
đúng nhất để toàn dân Việt Nam “phải” theo để giải phóng đất nước khỏi ách
thực dân giành độc lập cho xứ sở cũng như xây dựng đất nước trở thành phú
cường. Sự tuyên truyền của người cộng sản mang tính cách trường kỳ, không
ngừng nghỉ, bằng mọi phương tiện truyền thông mà họ nắm trong tay và kiểm
soát chặt chẽ.
Người dân Việt ở miền Bắc Việt Nam từ sau năm 1954, cho đến
1975 hàng ngày nghe loa phóng thanh ra rả ca tụng đường lối chính sách của
đảng cộng sản, đọc báo do nhà nước xuấn bản, xem film do nhà nước sản xuất,
thậm chí trẻ con học các bài học từ vỡ ḷng đến đại học đều lồng vào những
lời ca tụng đảng, bác và nhà nước cộng sản. Nghe riết trong hơn hai mươi
năm người dân miền Bắc “tin” là thật, y hệt như dân Đức khi xưa đă nghe
Tổng trưởng tuyên truyền Đức Goebbels vậy.
Người dân Việt hoàn toàn không biết rằng ngay từ thập niên
1930 nhà tài phiệt Ford ở Hoa Kỳ, đă bằng hành động cụ thể chứng minh rằng
chủ thuyết cộng sản là hoàn toàn sai trong thực tế. Khi xưa
Karl Marx (1818-1883) cho rằng xă hội loài người do biến thiên sẽ dẫn
đến giai đoạn phát triển khiến chỉ c̣n hai giai cấp “bóc lột” gồm chủ nhà
máy, chủ đất (điền chủ) và giai cấp bị bóc lột là giai cấp công nhân và
nông nô. Từ đó dẫn đến muốn cải thiện xă hội cho thành tốt đẹp và tạo công
bằng th́ chỉ có cách là giai cấp thợ thuyền phải “vùng lên” giành lấy
chính quyền, tiêu diệt giai cấp chủ nhân để xây dựng một xă hội mới công
bằng, không c̣n giai cấp và tạo hạnh phúc cho mọi người. Về mặt lư thuyết
mới nghe thấy có vẻ hấp dẫn. Thực tế cơ chế hoạt động của xă hội ngày càng
văn minh đă không diễn ra như Marx suy nghĩ. 
Bằng chủ trương cho công nhân mua cổ phần của nhà máy, Ford đă
biến giai cấp công nhân thành giai cấp chủ nhân, khiến công nhân và chủ
nhân trở nên b́nh đẳng, giống nhau, không có ǵ khác biệt phải chống đối
nhau hết. Lại nữa v́ nhu cầu của xă hội một
giai cấp trung gian
mà nay chính là giai cấp thực sự nắm quyền điều khiển toàn bộ phương tiện
sản xuất trong tay là giai cấp “quản trị viên”. Đây là giai cấp mới mà vào
thời của Marx ông ta chưa bao giờ tưởng tượng ra được là có mặt trong sinh
hoạt của xă hội.
Từ những nhận định thực tế và các chứng minh cụ thể rất nhiều
nhà tư tưởng trên thế giới (như
Raymond Aron chẳng hạn) đă
chứng minh rất rơ ràng là chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn sai lầm từ căn
bản, con đường mà người công sản theo để xây dưng “xă hội chủ nghĩa” là
hoàn toàn sai lầm. Hậu qủa hiển nhiên là sự xụp đổ của khối cộng sản Đông
Âu vào cuối thập niên 1980, kể cả đại cường quốc Liên Xô là một minh chứng
hùng hồn không thể chối căi.
Riêng tại Việt Nam, người viết bài này c̣n nhớ sau ngày 30
tháng 4 năm 1975, một bà d́ của người viết từ quê miền Bắc lặn lội vào
Saigon thăm gia đ́nh chúng tôi, trước khi đi, từ lâu đă được nhà nước
tuyên truyền rằng nhân dân miền Nam “đói khổ” lắm, sống rất cơ cực dưới
ách cai trị của “đế quốc Mỹ”, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thập chí
đến cái chén ăn cơm nhiều người cũng không có phải dùng gáo dừa thay thế.
Thế là khi vào Nam thăm gia đ́nh chúng tôi, bà d́ này đă cố gắng dành dụm
mang theo một nửa kílô đường cát trắng, mấy chiếc chén sành, vài chiếc
khăn mặt và mấy hộp dầu cù là nội hóa sản xuất tại miền Bắc lúc đó để làm
qùa và cũng để “giúp đỡ” gia đ́nh tôi. Nhung khi vào đến Saigon, thấy nhà
cha mẹ tôi, một gia đ́nh công chức hạng trung hồi hưu có đủ cả TV, tủ lạnh,
radio có tới mấy cái lận, bếp nấu bằng gas, có cả máy giặt quần áo th́ mới
té ngửa ra là lâu nay “đảng” và “nhà nước” hoàn toàn nói láo, nhân dân
miền Nam chẳng hề “đói khổ” như “đảng” tuyên truyền; chuyện hạt gạo “chẻ”
làm ba một phần để giúp nhân dân miền Nam, một phần làm nghĩa vụ quốc tế (giúp
Campuchia và Lào) hoàn toàn là bịp bợm nhưng bởi nhà nước tuyên truyền ra
rả suốt ngày này qua tháng khác riết rồi nhân dân miền Bắc “tin” là thật.
Đến khi thực mắt thấy, tận tai nghe, chính tay sờ th́ “hỡi ôi” mọi chuyện
đă rồi, miền Nam đă xụp đổ, lọt hoàn toàn vào ṿng kiềm toả của đảng cộng
sản Việt Nam.
Ba mươi năm đă qua đi, nay ḷng “tin” vào đảng cộng sản Việt
nam không c̣n nữa, bất cứ ai nay về thăm Việt Nam đều có thể nghe được
những lời “chửi bới” đảng và nhà nước gần như công khai của mọi người dân
nhất là dân nghèo. Nhưng dù dân chửi th́ mặc dân chửi, đảng nhất định “bám
trụ” quyết nắm chặt chính quyền bằng lực lượng công an ngày càng được gia
tăng hùng hậu, để kiểm soát và dập tắt mọi hành vi chống đối nhà nước của
nhân dân. Dân chửi “xuông” th́ không sao nhưng hành động chống đối th́
tuyệt đối “cấm”!
Sự kiện “không tin” vào nhà nước không phải chỉ thể hiện về
mặt chính trị mà bàng bạc trong mọi sinh hoạt; thật vậy, tôi có một người
bạn học cùng trường Chu Văn An Saigon ngày xưa, anh này thời VNCH cũng đă
có địa vị khá cao trong guồng máy chính quyền, nhưng sau ngày 30 tháng 4
không “dzọt” được, ở lại đi tù cũng mấy năm rồi không hiểu v́ lư do ǵ
không theo diện HO mà vẫn sinh sống ở Saigon. Năm ngoái, khi bàn đến
chuyện in bài
Chu
Văn An hành khúc trên b́a sau của đặc san Chu Văn An ở Nam Cali. Khi tôi
chuyển bản photo bài hát cho những người có trách nhiệm lo in ấn th́ anh
bạn ghi trên email cho tôi đặt câu hỏi rằng bài hát mà tôi gửi đó là
“thật” hay “giả”. Tôi phải xác minh là đó chính là bài do nhạc sĩ Thẩm
Oánh viết ngày xưa th́ anh bạn đó mới “tin” là “thật”. Sống dưới chế độ do
đảng cộng sản Việt Nam cai trị chỉ mới gần ba chục năm và vốn từng là
người được đào tạo tại miền Nam và đă từng làm lớn ở Saigon ngày xưa mà
c̣n mang tinh thần hoài nghi như thế th́ điều đó cho ta thấy là ở Việt Nam
ngày nay người ta nghe th́ nghe chứ chẳng ai tin ngay đâu là chuyện hiển
nhiên.
Ấy vậy mà trong một lănh vực khác,
lănh vực “t́nh yêu”,
lănh vực riêng lẻ của con người th́ dù là người cộng sản chính hiệu họ
cũng vẫn giữ được ḷng “tin” vào t́nh yêu thật sự. Một câu chuyện t́nh đă
được biết đến có lẽ cũng vài năm rồi nhưng nay người tây phương mới “nghe”
được họ có vẻ ngạc nhiên và khâm phục vào ḷng “tin” của chàng thanh niên
tên là Phạm Ngọc Cảnh, anh này năm nay đă đến tuổi “tri thiên mệnh”.
Năm anh ta 23 tuổi (năm 1971) là một du sinh được “bác” và
“đảng” đưa sang Bắc Hàn làm việc trong một nhà máy phân bón, tại đây anh
ta làm quen được với một thiếu nữ Bắc Hàn tên là
Ri Jong-hui, năm đó cũng 23 tuổi, cũng là sinh viên khoa Hóa như Cảnh.
Tiếng xét ái t́nh đă đánh trúng chàng sinh viên Việt Nam này. Hai người từ
quen nhau đến yêu nhau rồi thề nguyền với nhau là nhất định sẽ sống đời ở
kiếp với nhau.
Giữa năm 1971 Cảnh phải về nước, hai người thư từ cho nhau
liên tục 8 tháng sau đó. Năm 1973 Cảnh lại được sang Bắc Hàn để học tập
tiếp, gặp lại người yêu. Trước khi chia tay với người yêu Cảnh có hỏi Ri
rằng liệu Ri sẽ đợi Cảnh đến bao giờ? Nàng trả lời là sẽ đợi Cảnh suốt đời
và Cảnh th́ nói rằng sẽ dợi nàng đến chết, nghĩa là cả hai tuyệt đối “tin”
vào t́nh yêu của nhau, nhất định sẽ vượt mọi khó khăn để thành đôi lứa với
nhau. Ri và Cảnh có nhiều trở ngại v́ 2 nền văn hoá khác nhau, cha của Ri
trong chiến tranh Triều Tiên 1950 đă ở lại Nam Triều Tiên vả lại chuyện
cho một công dân ra khỏi nước Bắc Hàn là một điều rất hiếm thấy xưa nay
dưới chế độ B́nh Nhưỡng.
Năm 1978 Cảnh trở lại Bắc Hàn, anh liên lạc với giới chức của
Bắc Hàn và gặp lại được Ri. Hai người yêu nhau thắm thiết nhưng vẫn
chưa thể lấy nhau v́ những khó khăn của thủ tục và luật pháp khác biệt của
hai nước. Cảnh về Việt Nam và năm tháng trôi qua măi đến 1980 Cảnh vẫn
không thể thực hiện mộng ước lấy một người ngoại quốc làm vợ của anh.
Năm 1992, anh thành lập hội thân hữu Việt-Bắc Hàn với mục đích
nhờ đó có hy vọng gặp lại người yêu. Anh dă nhiều lần viết thư đến sứ quán
Bắc Hàn, xin phép cưới Ri làm vợ nhưng không bao giờ được trả lời hết. Năm
đó anh và cả Ri đều 44 tuổi, Cảnh cố sắp đặt một chuyến đi thăm Ri nhưng
bất thành.
Cũng năm 1992 Sứ quán Bắc Hàn thông báo cho anh hay là Ri đă
lấy chồng. Cảnh không tin vào nguồn tin của sứ quán v́ năm trước Ri c̣n
viết thư cho anh, hứa sẽ tiếp tục đợi anh. Tháng 7 năm 2000, một nhân viên
sứ quán thông báo cho anh hay là Ri đă chết 10 năm trước đó. Cuối năm đó
một nhân viên khác của sứ quán đă gửi một thư ngắn xin lỗi anh v́ nhầm lẫn
giữa Ri và cái chết của cô em của Ri. Cho đến tháng 9 năm 1992 Cảnh đă cố
hết cách mà không thể liên lạc được với Ri.
Năm 2002, Cảnh nhờ cha anh một viên chức ngoại giao hồi hưu
cầm thư riêng của Cảnh đến Chủ Tịch nước Trần Đức Lương xin can thiệp với
giới chức của Bắc Hàn về trường hợp của anh. Bốn tháng sau đó anh được
phép lấy Ri và hơn thế nữa cả hai muốn chọn sống ở đâu (Việt Nam hay Bắc
Hàn) cũng được. Tháng mười năm 2002 lo sợ v́ vụ rắc rối về vấn đề nguyên
tử của Bắc Hàn với Hoa Kỳ khiến Bắc Hàn sẽ đóng chặt các cửa biên giới
Cảnh gấp rút đem Ri qua Việt Nam, thế là sau 24 năm dài với biết bao trở
ngại phải vượt qua cuối cùng nhờ ḷng “tin” tuyệt đối vào t́nh yêu của hai
người mà sau 24 năm xa cách họ đă thành lứa đôi ở tuổi 47. Nay th́ cả hai
đă 50 tuổi họ hiện sống hạnh phúc bên nhau tại Hànội.
Chuyện t́nh của anh chàng cộng sản Việt Nam Phạm Ngọc Cảnh kể
ra cũng là chuyện hiếm có nhất là trong xă hội hoàn toàn “mất ḷng tin”
như ở Việt Nam ngày nay.
Trong khi đó sáng ngày 16 tháng 5 vừa qua trên chương tŕnh
Sunrise của Đài truyền h́nh số 7 ở Úc, một bảng thống kê ghi kết qủa một
cuộc thăm ḍ của tạp chí
Reader’s Digest về chuyện “tin” và “không tin” của dân Úc đă được công
bố như sau :
Danh sách 21 người đứng đầu được dân Úc “Tín” nhất là :
1/ Nữ Bác sĩ Fiona Wood, người được bầu là xuất sắc nhất năm
2005.
2/ Nữ ca sĩ Olivia Newton John.
3/ Công chúa Mary của Đan Mạch (người gốc đảo Tasmania của Úc).
4/ Bác sĩ thú y Harry Cooper của chương tŕnh Better Homes &
Gardens.
5/ Ian Kierman người sáng lập và điều hành chương tŕnh Clean
Up Australia .
6/ Ernie Dingo người thổ dân điều khiển chương tŕnh TV The
Great Outdoors.
7/ Tiến Sĩ Karl Kruzelnicki phụ trách chương tŕnh khoa học
của Đài số 7.
8/ Dick Smith, triệu phú, nhà thám hiểm, thương gia, kỹ nghệ gia Úc.
9/ John Farnham ca sĩ.
10/ Tướng Peter Cosgrove Tư Lệnh quân Úc, người sẽ hồi hưu
giữa năm nay.
11/ John Wood, tài tử của loạt phim truyện Blue Heelers trên
TV.
12/ Ian Thorpe, tay bơi lội thế vận của Úc.
13/ Patrick Rafter, đấu thủ quần vợt hồi hưu từng 2 lần đoạt
giải US open.
14/ John Williamson, ca sĩ.
15/ Mel Gibson, tài tử điện ảnh hiện thường sống ở Mỹ.
16/ Peter Doherty, người từng đoạt giải Nobel.
17/ Dawn Fraser, cựu vận động viên bơi lội thế vận Úc.
18/ Andrew Gaze, đấu thủ bóng rổ Úc.
19/ Andy Thomas, phi hành gia không gian người Adelaide .
20/ Scott Cam, người phụ trách chương tŕnh TV Backyard Blitz
của Đài 9.
21/ Sigrid Thornton, nữ tài tử của loạt phim Seachange.
Nếu tiếp tục theo dơi danh sách này th́ thấy măi đến hạng thứ
85 mới nh́n thấy tên của Thủ Tướng
John Howard
và hạng 86 là của Thủ lănh đối lập
Kim Beazley.
Năm người đứng chót trong tổng số 100 người là :
96/ Tổng Trưởng Ngân khố Peter Costello, người đang chờ cưa
ghế ông Howard.
97/ Kerry Packer, Tỷ phú giầu nhất nước Úc, một trong những
người đóng thuế ít.
98/
Paul Keating,
cựu thủ tướng Úc, người mà bạn nào check spelling tên ông trong MS-Word
luôn luôn được gợi ư là đổi thành
Paul Cheating.
99/ Rupert Murdock, Tỷ phú lưỡng quốc tịch Mỹ-Úc, nhà tài phiệt
truyền thông.
100/ Amanda Vanstone, Tổng Trưởng Di Trú Úc.
Trong khi đó trong một khía cạnh khác là khía cạnh chuyên môn th́ một bảng
thống kê khác cho thấy rằng 10 “nghề” được dân Úc “tin” nhất là :
1/ Nhân
viên xe cứu thương (ambulance officers)
2/
Nhân viên cứu hỏa (firefighter)
3/ Các bà mẹ (mothers)
4/ Y-tá (nurses)
5/ Phi công máy bay (Pilots)
6/ Bác sĩ.
7/ Dược sĩ.
8/ Các ông cha (fathers) (không phải cha ở nhà thờ)
9/ Cảnh sát viên (police officers)
10/ Thầy giáo.
Nếu tiếp tục ḍ theo bảng này th́ người ta thấy
đứng chót là các chính trị gia
(hạng 30).
Nếu nh́n vào danh sách những người làm nghề nào dân Úc “không
tin” nhất th́ thấy như sau :
1/
Các chính trị gia.
2/ Các người bán xe hơi (car salemen)
3/ Các tay môi giới bán nhà (Real-estate agents ở Mỹ gọi là brokers)
4/ Các Tâm lư gia (Psychics)
5/ Nhà báo (journalists)
Sở dĩ dân Úc hoàn toàn không “tin” mấy ông chính trị gia là bởi họ chả bao
giờ giữ lời hứa của họ hết. Khi vận động bầu cử họ luôn luôn hứa rất đẹp,
nhưng sau khi đă ngồi vững ghế trong quốc hội th́ họ không ngần ngại nuốt
ực lời đă hứa trước đó. Chẳng hạn như
Thủ Tướng
John Howard khi vận động tranh cử hồi cuối năm 2003, ông ta hứa chắc
như bắp là nhất định cái “safety net” (lưới an toàn) của chương tŕnh bảo
hiểm y tế Medicare sẽ đứng vô hạn định ở mức $AUD300 cho các hưu viên và
người có lợi tức thấp, $AUD500 cho các thành phần khác. Nhưng năm nay
2005, trước khi công bố ngân sách mới hôm giữa tháng 5 vừa qua ông Howard
đă “nói lại” là cái “safety net” đó nay đă thay đổi thành $AUD500 cho các
hưu viên và người có lợi tức thấp, $AUD1,000.cho các người khác. Chuyện
các chính trị gia “chuyên” nuốt lời hứa khiến dân Úc khi nói đến loại
người này thường “dè bỉu” bảo rằng họ (các chính trị gia) đảng nào cũng
thế thôi tất cả đều là “shit” hết có khác nhau chăng là một bên là “shit”
khô, bên kia là “shit” ướt mà thôi!.
Các nhà
buôn người Hoa th́ có câu
“một lần bất tín, vạn lần bất tin”,
chỉ cần một lần không giữ chứ “tín”th́ một vạn lần sau nói ǵ, làm ǵ
người ta cũng không tin nữa. Cũng bởi mang nặng quan niệm này mà trong quá
khứ Trung Quốc chưa từng bao giờ dám sai lời hứa với các nước Tây phương.
Tất cả các hiệp định họ kư với Tây phương họ luôn luôn giữ đúng. Không như
Việt Nam dù tḥ tay kư hiệp định ngừng bắn Paris năm 1973, nhưng chỉ 2 năm
sau đă tự động xé hiệp định bằng cách xua quân lấn chiếm miền Nam Việt Nam
. Trước đó khi thoả thuận trao đổi tù binh với Mỹ và miền Nam Việt Nam,
nhất định rằng đă trả “hết” tù binh Mỹ và miền Nam Việt Nam, nhưng sau đó
thỉnh thoảng lại “ḷi” ra ít mạng. Phát ngôn viên nhà nước ngày hôm trước
tuyên bố là cả nước không có tù nhân chính trị, tôn giáo và lương tâm nào
hết, toàn là tù h́nh sự không à! Nhưng chỉ vài ngày sau do áp lực quốc tế
quá nặng lại phải “nói lại” là có một số ít và nay thả ra mấy mạng, mai
vài mạng.
Nói khác đi người cộng sản Việt Nam chủ trương “quân tử nói đi
nói lại là quân tử khôn!” và nhất là chính sách
“cứu cánh biện minh cho phương tiện”
tức là kết quả đạt được sẽ chứng minh là cách đă theo là đúng, được người
cộng sản Việt Nam tuyệt đối “tin” tưởng và tuân theo đă từ hơn 60 năm nay.
Trước
năm 1975, người Tây phương “ngây thơ” tưởng rằng cộng sản Việt Nam cũng
như ḿnh nên nghe nói ǵ cũng tin là thật. Nay qua thực tế chứng minh họ
đă nhận chân ra rằng cộng sản Việt Nam nói một đằng làm một nẻo đúng như
lời cựu Tổng Thống VNCH
Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) đă từng nói là:
“Đừng tin những ǵ cộng sản nói mà hăy nh́n kỹ những ǵ cộng sản làm”.
Bởi thế
cho dù cả tập đoàn nhà nước hết ḷng năn nỉ, đi xin sỏ khắp nơi mà mới đây
chỉ vài ngày, cơ quan
WTO (World Trade Organization) của Liên hiệp quốc vừa gửi văn thư
chính thức cho nhà cầm quyền Hà nội khuyến cáo cần “thay đổi” nhiều hơn
nữa nếu muốn được gia nhập vào tổ chức này.
Ôi!
người xưa có câu: "miếng ngon nhớ lâu, đ̣n
đau nhớ đời” không hiểu chuyện nói láo để nay bị thiên hạ mất ḷng
“tin” đă đủ là đ̣n đau chưa và để
những người cộng sản Việt Nam nhớ đời chưa không biết ? |