Con
trâu rừng cuối cùng
trên đảo Phú Quốc
Nguyễn Công Khanh
Năm 1960, anh
ra khỏi trường, tưởng rằng sẽ được kéo cái cuộc đời kư cóp an nhàn ở Saigon,
trong các bộ, phủ như các khóa tốt nghiệp trước. Nhưng cũng trong thời gian đó,
Cộng sản nằm vùng bắt đầu trỗi dậy, mở đầu bằng một trận tấn công đồn Dầu Tiếng
và sau đó liên tiếp xẩy ra các cuộc phá rối ở nhiều nơi.
Tổng Thống Diệm, lúc đó đang đẩy mạnh chương tŕnh lập ấp chiến lược, tin tưởng rằng sẽ tách rời được Cộng sản ra khỏi dân quê và phát triển được các phương diện kinh tế, xă hội, giáo dục, y tế và an ninh trong các xă ấp mà dân quê từ bao nhiêu năm đă không được hưởng. Tống Thống Diệm h́nh như không tin tưởng ở những cấp chỉ huy địa phương chỉ có khả năng về quân sự hay chỉ có khả năng về hành chánh có thể thực hiện được cái chương tŕnh toàn diện kể trên. Trường Hành Chánh lúc đó trực thuộc Phủ Tổng Thống, v́ thế đă chịu ảnh hưởng trực tiếp cái ư định trên. Sự xử dụng các sinh viên tốt nghiệp của khóa anh được đổi chiều một cách rơ rệt. Một nửa khóa được chọn để đưa vào làm việc cho ngành Trung Ương T́nh Báo, một nửa khóa c̣n lại đợi ngày nhập quân trường để được huấn luyện thành sĩ quan và sau này sẽ đưa về địa phương phục vụ.
Tổng Thống Diệm lại cẩn thận
và kỹ tính hơn, đă gửi đi quân trường Đồng Đế để tướng Đỗ Cao Trí hết ḷng ‘‘săn
sóc’’ cho cẩn thận trong cái ḷ luyện thép của các khóa đào tạo sĩ quan hiện
dịch.
Hồi đó, anh hay đọc những truyện gián điệp, nghĩ rằng một ngày nào ḿnh sẽ được
sống một cuộc đời lầm ĺ, bí mật, ly kỳ như những nhân vật trong truyện. Anh
mong được vào ngành T́nh Báo, và nhất là T́nh Báo quốc ngoại. V́ thế khi chọn
ngành tập sự trước khi tốt nghiệp, anh đă chọn ngành Cảnh Sát Công An và luận
văn ra trường anh đă viết rất cẩn thận về đề tài ‘‘Tổ Chức Màng Lưới T́nh Báo.’’
Anh đă không được chọn, không
hiểu rằng cái đó là cái may hay là cái không may. Nhưng anh biết rằng, những
người bạn của anh trong ngành T́nh Báo đă phải hy sinh khép kín trong một đời
sống kỷ luật, giới hạn và bảo mật tối đa của tổ chức. Chiều cuối cùng ở Việt
Nam, bao nhiêu sự run rủi đă đưa anh và gia đ́nh lọt qua ṿng dây kẽm gai dày
đặc của hải quân để vào được bến Bạch Đằng. Bên ngoài, tiếng súng vọng từ ngả xa
lộ nghe rơ mồn một. Đang loay hoay, bồn chồn chờ đợi không hiểu có thể kiếm thêm
một dịp may nào nữa để cả một bầu đoàn thê tử có thể nhảy lên một chiến hạm ra
khơi hay không, th́ anh trông thấy một người bạn cùng khóa và gia đ́nh đang hớt
hải từ trụ sở của cơ quan T́nh Báo lái xe cố len ra. Anh bèn gọi ngược lại:
-Đi đâu đấy?
Anh bạn vội vă đáp:
-Tao phải ra ngay đường Ngô Thời Nhiệm. Tụi Mỹ nó hẹn sẽ hạ trực thăng ở đó
để bốc tụi tao.
Anh vội kêu lên:
-Thành phố đă hỗn loạn rồi, mày không thể nào tới đó được, mà trực thăng cũng
không thể nào xuống được nữa rồi. Tao đă cố ḅ vào đây, mày lại cố ḅ ra. Thôi ở
đây đi, xem có thể xuống được tàu hay không.
Anh nhớ đến những người bạn khác trong ngành T́nh Báo đă tin tưởng vào trực thăng Mỹ đến bốc phút cuối cùng, hầu hết đều kẹt lại, lê lết trong các trại tập trung miền Bắc bao nhiêu năm trời, nhiều người đă không bao giờ trở về được.
* * *
Nhiều lúc ngồi nghĩ, anh phải tức cười về cách chọn nghề một cách tài tử của ḿnh. Anh có một ông chú, hồi xưa thích đi đây đi đó, nên anh thường theo ông đi từ ga này đến ga khác trong các dịp nghỉ hè. Đến nay, anh vẫn c̣n nhớ được những tên ga trên vùng mạn ngược: Đồng Giao, Bản Thí, Lạng Sơn.. Những ga ở miền trung châu: Phủ Lư, Ninh B́nh... Những ga ở miền trong: Đ̣ Lèn, Hàm Rồng, Thanh Hóa ... Anh lại vẫn c̣n mường tượng được cái cảnh mấy chú cháu cố giữ thăng bằng đi trên con đường sắt trong những buổi chiều vắng lặng, mênh mông, mất hút như hai con đường song song chạy về cuối chân trời. Hay trong cảnh hoàng hôn, ngồi một ḿnh trên băng ghế ở sân ga không người, sau khi chuyến tàu chót đă rời xa chỉ c̣n lại cái quạnh hiu của một ga xép đường rừng.
Ngay cả những năm sau khi đất nước chia đôi, ông cụ thân sinh anh theo sở đem gia đ́nh ra Đà Nẵng, c̣n anh theo trường trọ học ở Saigon. Mỗi lần hè anh đáp xe hỏa trở về Trung, anh nhớ nhất những đêm ngồi trên bực lên xuống của toa tàu, nghe tiếng nhịp xe chạy đều, nh́n cảnh trăng sáng trên biển hay lấp lánh trên các rừng dừa ở băi biển Sa Huỳnh hay vịnh Cam Ranh. Những chiều trên đỉnh đèo Hải Vân khi xe từ từ chạy ṿng nghiến trên đường sắt ở ga Băi Kả, hay lúc tàu vừa qua khỏi Hầm Sen, thấy cả một cảnh Lăng Cô đẹp như tranh vẽ. Càng đi, anh càng thấy đất nước ḿnh thật đẹp và thấy ḿnh yêu quê hương ḿnh hơn. Có lẽ v́ thế cái máu giang hồ nó đă thấm vào anh. Khi anh vừa xong Tú Tài phần I , tự nhiên anh thấy chán học, định theo một số bạn bỏ trường v́ máu ‘’Giang hồ cuả ông Cử Hai’’ mà Nguyễn Tuân đă tả trong ‘‘Vang Bóng Một Thời’’ đă nổi dậy.
Anh đọc được một thông cáo
của Trường Hàng Hải, bèn đến nạp đơn xin nhập học, tưởng rằng sau này ḿnh sẽ
thành một thuyền trưởng và sẽ có dịp đi năm châu bốn bể. Nhưng không hiểu v́ lư
do ǵ ít lâu sau trường này đóng cửa luôn. Anh lại ngỏ ư xin vào Hải Quân, th́
một người anh họ vội ngăn:
- Chú mà vào đó th́ không có đời sống gia đ́nh. Tàu của chú rồi cũng chỉ luẩn
quẩn ở ven biển thôi.
Anh cảm thấy ấm ức v́ lời khuyên. Cũng mùa hè năm đó, anh có dịp đi tàu thủy từ
Saigon ra Đà Nẵng, mấy ngày đêm trong tàu chỉ toàn ngửi mùi dầu. Ăn xong lại
ngồi nh́n trời với nước, sách đọc măi đến phát chán, chuyện nói rồi cũng hết.
Anh thấy tù túng, cuồng cẳng và sốt ruột mà con tàu th́ cứ lừ lừ, đủng đỉnh,
không thể nhanh. Anh bỏ ư định vào Hải Quân.
Một hôm ngồi nhà nghe thấy
Việt Tấn Xă tuyển phóng viên. Anh nghĩ cuộc đời tự do như mấy ông làm báo cũng
thú. Anh đến Việt Tấn Xă gặp ông trưởng pḥng. ngồi nói chuyện một lúc, ông cũng
khuyên anh:
-Cậu nên về học nốt, không nên bỏ ngang rất phí!
Anh không c̣n biết nói ǵ hơn, bèn chào ông và lủi thủi bước ra. Hôm đó anh
đạp xe một ḿnh trên đường phố Saigon, tưởng chừng như bao nhiêu giấc mộng viễn
du của anh từ trước đến nay như đă bị vỡ tan tành. Đời sống của anh như ngày
càng thu hẹp lại một cách chán chường.
Anh vẫn chưa chịu thua. Ít lâu sau, một người bạn đến rủ anh đi nạp đơn vào
Không Quân để thành phi công. Anh nghĩ lần này chắc thế nào cũng xong, ḿnh cũng
tạm cao ráo, đủ cân đủ lượng, mắt mũi không đến nỗi kèm nhèm. Về đến nhà trọ,
đang mơ màng nghĩ đến ngày được cưỡi mây, lướt gió, nh́n những thành phố nhỏ
dưới chân, chắc là thỏa chí tang bỗng.. Mấy người bạn được tin, họ không muốn
mất anh, nên xúm nhau vào gièm pha:
- Đừng có vào nhà binh bó buộc lắm, cái ‘‘ Máu giang hồ ông Cử Hai’’ của mày
không chịu được đâu.
Thôi th́ họ nhao nhao, mỗi người một câu ngăn cản:
- Không quân th́ cũng oai thật. Nhưng mày thử nghĩ xem, sáng đi từ một nơi,
chiều về lại nơi đó, và nếu không về là đi luôn đấy! Thôi cố học nốt phần 2 đi ,
rồi sẽ tính sau!
Họ cố t́nh giữ anh lại, nên anh cũng đành chiều theo ư bạn. Ngày ngày lại hai
buổi lẽo đẽo đạp xe đến trường, ngồi trong lớp chật như cá hộp, mồ hôi chảy như
mỡ, ngủ gà ngủ gật gượng không nổi. Tối về gác trọ, vừa đập muỗi, vừa ‘‘gạo’’
cho kỳ thi sắp tới.
* * *
Nhớ lại khi học hết trung
học, năm đó chính phủ mở rộng nhiều đại học, thi vào đâu cũng dễ. Anh và mấy
người bạn suốt ba tháng hè chỉ bận rộn vác đơn đi nạp và ngồi trong các pḥng
thi tuyển. Nhưng chẳng ai có định kiến ǵ chắc chắn. Đang thi vào Trường Kỹ Sư
Phú Thọ, cả bọn bỏ ngang rủ nhau đi ciné buổi chiều hôm đó. Nạp đơn thi vào Sư
Phạm cũng không chịu đến thi, chỉ sợ sau này phải sống một cuộc đời mô phạm,
gương mẫu, đúng giờ đúng giấc hơn cả mọi người. Cuối cùng, chẳng vào được trường
nào. Anh và một người bạn thân rủ nhau vào học năm Dự Bị Y Khoa, lúc đó không
cần thi nhập học. Mấy tháng trời làm quen với cảnh chai lọ, đo đo, ngắm mgắm cho
đủ phân lượng. Tối về lại vùi đầu cố học thuộc những công thức này, công thức
khác đến phát ngán..

Vài tháng sau, người bạn bỏ
anh lên Đại Học Đà Lạt học ban Anh Văn. Anh ta viết về những lá thư dài tả những
buổi sáng nằm một ḿnh trong kư túc xá, nh́n qua khung cửa kính, thấy hoa anh
đào nở trong sương lạnh, những bụi hồng leo cố ḅ sát cửa sổ. Người bạn lại kể
cả cảnh đi thăm hồ Than Thở, thác Gougar, rừng Ái Ân và gửi cho anh một tấm h́nh
chụp một ḿnh ở Suối Vàng. Trông người bạn, anh thấy cả một nỗi cô đơn, v́ phải
xa Saigon, v́ thiếu những người bạn thân thiết bao nhiêu năm trời ở trung học.
Hồi đó h́nh như người bạn c̣n yêu một cô con gái mà anh quen, nhưng đă không thố
lộ cho anh biết. Nhớ lại bạn và những tháng ngày trên gác trọ, những buổi lang
thang đạp xe trên đường phố hay những ngày Tết, những ngày hè anh không về thăm
nhà được, người bạn thường rủ anh về với gia đ́nh anh ta ở đồn điền Quản Lợi.
Anh và bạn suốt ngày đi chơi trong các vườn cao su, trong các làng Thượng hay
tối theo một số người đi săn nai...
Mấy năm trước, xuống Cali, được tin bạn cùng một đứa con đă nằm dưới biển sâu
trên đường vượt thoát, anh ngậm ngùi thấy nỗi buồn của những ngày xa xứ càng
thêm nặng.
Ít lâu sau, trong cái năm xưa
đó, anh cũng bỏ trường Khoa Học và thi được vào trường Hành Chánh. Ngày ngày
ngồi trong giảng đường nghe những băi giảng triền miên. Nghe Giáo sư Nguyễn Cao
Hách, thao thao bất tuyệt về những lư thuyết kinh tế, từ khi bước vào lớp cho
đến khi bước ra. Sinh viên chỉ việc chúi mũi ngồi ghi, không có th́ giờ cựa
quậy. Những bài giảng của Giáo sư Nguyễn Văn Độ về luật Hành Chánh rối bời như
một mớ ḅng bong. Lớp anh học đă ít người, lại gặp Giáo sư Nghiêm Đằng, ngồi
giảng nghiêm khắc như ở chỗ công đường ngày xưa, về luật Tài Chánh và Công Phí.
Giáo sư Vương Văn Bắc th́ lầm ĺ, nói những lời đanh thép về Chính trị học hay
Luật Hiến Pháp. Lại mấy vị luật sư vừa là giáo sư của trường, thường phải đi
biện hộ ở tỉnh xa, nhiều hôm căi thua mang cả cái bực dọc vào trong lớp và
thường hiểu lầm cái cười nửa miệng của anh, khiến có lần anh đă bị đuổi ra khỏi
lớp. Sau này, anh mang những mớ lư thuyết cao siêu đó về địa phương, loay hoay
với đám dân nghèo và lũ du kích tinh ma. Nhưng được cái là đi học chỉ việc ngồi
nghe và ghi các lời giảng, về nhà chẳng cần phải làm bài, học bài. Cứ để đến kỳ
thi hăy tính sau. Cuối tháng lại được lănh học bổng cũng khá như một công chức,
đủ để mang đi vung vít. Cái máu ‘‘Giang hồ của ông Cử Hai’’ của anh cũng tạm
yên. Anh cũng chẳng để ư ǵ đến cái cảnh mai sau phải sớm vác ô đi, tối vác về,
và anh cứ để cái cuộc đời sinh viên đó trôi đi một cách dể dàng không suy
nghĩ...
* * *
Sau khi tốt nghiệp trường Hành Chánh và sau gần một năm trời ở Quân Trường Đồng Đế về. Bạn bè anh đă đi xa gần hết. Anh mang cái đầu húi cao, da cháy nắng đen xạm đi lạc lơng ở Saigon hay ngồi từng ngày dài trong các quán cà-phê, đợi ngày được ném đi vào một vùng xa xôi nào đó mà ḿnh chưa được biết.
Nhớ lại thời gian ở Đồng Đế, những ngày đầu của một tháng huấn nhục, quân trường
không thấy bóng ai đi bộ, di chuyển là chạy. Phạt thường thường là tập thể và
xảy ra luôn luôn, ít nhất mỗi lần là 50 cái hít đất. Tối nào cảnh phạt dă chiến
cũng diễn ra vứa khôi hài vừa mệt đứt hơi. Mỗi bữa ăn không được kéo dài quá năm
phút, nghe tiếng hô ‘’ Đứng dậy!’’ là mọi người phải đi ra khỏi pḥng ăn. Mất
trật tự một chút là bị giải tán và kêu tập họp lại đến năm bẩy lần mới được tha.
Sĩ quan cán bộ tha hồ sỉ vả, ai tỏ ra tự ái là bị phạt liền. nhiều lúc không có
duyên cớ, v́ khi huấn nhục, chủ thuyết nhân vị của ông cố vấn Ngô Đ́nh Nhu phải
để ngoài cổng trường.
Những cuộc di hành hàng tuần theo tốc độ, nếu về chậm là cả tiểu đoàn lại phải
đi lại. Mỗi lần như thế, trông một số bạn đến thật thối chí, đường th́ c̣n xa,
có anh ‘’bế’’ khẩu Garant M1, tưởng như gánh nặng ngàn cân, mặt chẩy dài như
chai bia, cố lết đi tưởng như không bao giờ về đến đích được. Chúng tôi thường
đổi câu đầu của bài Lục Quân Việt Nam thành ‘’ Đường trường xa, con chó nó tha
con mèo...’’. Có anh người cao ng̣ng nghèo, đeo súng đạn quanh người, lưng mang
sac-au-dos nặng ba mươi kí, nhiều lúc
uốn éo trông như một anh cu ngoắy. Có anh,
lúc đứng ở thế nghiêm trong hàng, súng cao ngang đầu. Có anh, đă mệt c̣n bị sỉ
vả đâm bừa, bị phạt trọng cấm hoài, có khi bị phạt chung với các quân nhân phạm
kỷ luật trong quân trấn. Trong số chúng tôi có nhiều người học hành cố gắng,
gương mẫu, có anh có số điểm cao nhất đỗ đầu, nhưng để cho cân bằng với bên quân
đội, thành đồng thủ khoa của khóa.
Không thể nào quên được trong cái ḷ luyện thép đó, anh và các bạn vốn là những
thư sinh cùng với những người có cấp bậc trung sĩ được huấn luyện để trở thành
sĩ quan hiện dịch. Dù sau này anh có được học thêm các lớp cao cấp hơn, anh vẫn
nhớ những người bạn đó. Cả cuộc đời của họ đă gắn liền với quân ngũ, đă tham dự
khắp chiến trường, từ những trận b́nh định trong miền trung châu sông Hồng đến
những trận đánh thí người Ḥa B́nh, và cuối cùng lại được thả xuống cứu Điện
Biên tuyệt vọng. Họ gan ĺ, hănh diện với binh nghiệp, nhưng lại giầu t́nh đồng
đội.
Cũng không thể nào quên được những ngày cùng họ vượt Ḥn Khô, qua đèo Rù Ŕ hay
băng qua những cánh đồng Diên Khánh.
Những
đêm tảo thanh dọc đường xe lửa, vừa đi vừa buồn ngủ, vồ cả người vào cây cối bên
đường. Có những lần vượt suối mùa mưa, trôi luôn cả súng. Những buổi ngồi ở thao
trường, nắng cháy rát bỏng cả áo trận. Nhiều tối không được nghỉ, các đại đội
phải luân phiên nhau đem cát, xi-măng và nước lên đỉnh Ḥn Khô để đắp tượng một
người lính đứng theo thế thao diễn nghỉ, cao gần hai chục thước để làm kỷ niệm
của khóa cho quân trường. Những buổi sáng chạy bộ từ Đồng Đế đến Cầu Đá, rồi
quay trở về, nếu hôm nào không may bị xếp vào hàng giữa th́ hôm đó đến ngạt thở
v́ hơi người xông ra nồng nặc. Những buổi tối ngồi gác tại Ba Làng, nh́n trăng
sáng long lanh trên mặt biển. Những buổi thao dượt tấn công, phản phục kích,
vượt cầu dây, tuột núi, hay ḅ dưới hỏa lực ban đêm mà đạn bay vèo vèo thành
những đường thẳng sáng lia lịa trên đầu.
Nhớ đến cả những buổi nghỉ phép cuối tuần, mặc quân phục dạo phố cứng ngắc, mặt cháy nắng như chà và, đi lên đi xuống hàng chục lần dọc phố Độc Lập. Những buổi chiều tại các quán dọc băi biển Nha Trang, ngồi ngắm biển xanh, nghe tiếng thùy dương và những đợt sóng xô vào bờ đều đều mà nghĩ đến một ngày nào ḿnh được trở lại Saigon. Nghĩ đến những người bạn xưa lúc đó, sau này trở thành những ‘’Cọp đầu rằn’’, thành những ‘’Trâu điên’’, những ‘’Lôi hổ’’ ... tung hoành trên khắp các chiến địa một thời. Có người đă anh hùng nằm xuống từ lâu trong thung lũng Ashau, trong śnh lầy Đồng Tháp, ở chốn địa đầu Tam Biên hay nay đă thất thế tàn lụi trên quê hương, nơi mà họ chiến đấu cho khỏi cảnh ngục tù th́ nay đă trở thành ngục tù cho chính họ. Cũng như mọi người, quân trường đă huấn luyện giúp anh và các bạn anh trong những ngày sắp tới, ḷng tự tin, can trường, tôn trọng kỷ luật và nhất là tinh thần đồng đội. Với những câu châm ngôn ’’Tự Thắng Để Chỉ Huy’’, cùng với ‘’Danh Dự, Trách Nhiệm và Tổ Quốc’’, và những lời thề tại vũ đ́nh trường ngày nào vẫn c̣n văng vẳng măi đâu đây. Quân trường lại c̣n giúp cho cách làm việc chính xác, không như những ly thuyết cao xiêu rối bời thu thập trong đời sinh viên tại đại học. Ngay như một cái lệnh hành quân mạch lạc : Ước lượng t́nh h́nh địch, t́nh h́nh bạn, ấn định mục tiêu, kế hoạch hành quân, phối hợp truyền tin, tiếp vận, nó như một cái mẫu để giúp mọi người làm những chuyện lớn chuyện nhỏ sau này.
Trong mục đích huấn luyện tối hậu của Tổng Thống Diệm, anh và các bạn được chỉ định vào những chức vụ chỉ huy trung đội hay đại đội trưởng khóa sinh để sau này hi vọng có thể nắm vững t́nh thế tại địa phương. Một lần anh được cử làm tiểu đoàn trưởng, có dịp đứng trong vũ đ́nh trường, trước ba quân hét lớn: ‘’Tiểu đoàn theo lệnh tôi!’’, để xuất quân khởi đầu một cuộc dạ hành đi bộ 60 cây số, suốt đêm. Theo tướng Đỗ Cao Trí, một người lính bộ binh giỏi là một người đi bộ giỏi.
Sau khi ra khỏi quân trường,
anh và các bạn hầu hết được đưa về địa đầu, các quận miền Trung, Cao nguyên hay
đồng bằng Cửu Long. Các bạn anh đều tham gia vào các cuộc hành quân lập ấp. It
lâu sau, anh nghe tin Nguyễn Ngọc Vị thành quận trưởng tại một quận trong tỉnh
B́nh Định.
Nhiều lúc ngồi nhớ lại, tự nhiên một bài quân hành quen thuộc mà thường vừa hát
vừa phải gào lên trong quân trường chợt vang đến anh:
‘’ Đường về Nha Trang nung
chí người trai.
Một trời thép súng nở hoa tươi cười
Tập luyện ngày đêm luôn có anh tôi
Mưa nắng thao trường thấm bao mồ hôi
... ...
Leo dây tử thần đùa với gió núi
Đu đưa giữa trời một đêm không trăng sao
Xung phong lên quyết chiến thắng gian lao
Chiến công rực rỡ trong nắng đào’’
Tiếng quân hành của đại đội
năm xưa đó, lẫn với nhịp đi và tiếng hô: ‘’Hai, ba. To lên!’’ ḥa cùng gió biển,
từ một miền cát trắng, bên kia bờ đại dương nay có hẳn như đă là một âm ba huyền
thoại của một thời chinh chiến đă xa ...
* * *
Hơn tháng sau, anh xuống tỉnh Kiên Giang tŕnh diện, mới biết nhiệm sở của ḿnh
là đảo Phú Quốc. Anh thản nhiên cầm sự vụ lệnh do ông Phó Tỉnh Trưởng, một người
tốt nghiệp trước anh nhiều khóa trao cho. Ông ta như có vẻ ái ngại, an ủi một
sinh viên mới ra trường:
- Em cứ ở tỉnh ít lâu cho quen, ngoài Tết hăy ra cũng được. Nếu cần ǵ th́
cho ‘‘qua’’ biết.
Anh cám ơn ông và bước ra khỏi Ṭa Hành Chánh. Khi vào trường, lúc nào cũng
tưởng ḿnh sẽ được ở Saigon, cùng lắm là đi tỉnh. Nay tỉnh cũng không được mà
quận lớn cũng không xong. Bây giờ lại là một ḥn đảo, nghe cũng thấy là lạ...
Anh ra khỏi Ṭa Tỉnh Trưởng, đi dọc theo kè đá, tự nhiên mùi hăng nồng của con
lạch cửa biển và h́nh ảnh những con thuyền nằm bên nhau để chờ con nước ra khơi
đă đưa đến cho anh những cảm giác lạ chưa từng có.
Tối đó, anh trở về khách sạn. Trong giấc mơ, tự nhiên anh thấy những ḥn đảo xanh, những vùng biển lặng, thơ mộng như những truyện anh đă đọc. Anh thấy cả những cô gái mặc xiêm y sặc sỡ, ḿnh trần, tóc xơa dài như trong các tranh vẽ của Gauguin hiện ra, mộc mạc và đa t́nh đang múa những vũ điệu của miền nhiệt đới trong tiếng trống bập bùng. Một lần nữa, anh tưởng như ḿnh sẽ lại được sống một cuộc đời bồng bềnh như mây nước để đi t́m những thiên đường đă mất từ lâu... Anh ở Rạch Giá gần tháng trời trong khách sạn Hải Thiên. Chiều chiều, lên sân thượng nh́n ra biển xa, để cố tưởng tượng đâu là Phú Quốc, nhưng chỉ thấy đảo Ḥn Tre nằm phục ngoài xa như một con rùa bơi trên mặt nước và những cánh hải âu dập dờn trong gió... Hàng ngày tiệm cơm tàu Đông Phát hay Hưng Phát ǵ đó cho người bưng cơm đến tận pḥng. Anh nghĩ, sao có người đàn anh ở khóa trên lại lo cho đàn em một cách chu đáo đến thế. Nằm dài mà ăn cơm tàu măi cũng phát ngấy, trời lại gần Tết, anh bèn lấy cớ xin về Saigon để sửa soạn thu xếp trước khi ra đảo. Biết lần này đi lâu lắm mới có ngày trở lại. Anh cùng một vài người bạn c̣n lại như sống vội, đi ngồi hết nơi này đến quán nọ như để tạm biệt. Hết Mai Hương đến Hanoi, hết Brodard đến Pagode, rồi ṿng về Thanh Bạch ngồi nh́n đường phố, ngồi nh́n những tà áo lụa bay mà ḿnh sắp sửa phải rời xa. Tối đến anh lại cùng các bạn đến các vũ trường, từ Mỹ Phụng đến Olympia, từ Đại Nam sang Baccara, từ Arc-en-Ciel đến Melody... Anh ngồi trước những ly nước, trước những cái gạt tàn đầy khói thuốc và nghe những bản nhạc ră rời trong nửa đêm về sáng. Đúng như truyện t́nh cải lương của anh lính chiến: ‘’Ngày mai anh đă đi xa rồi, Thành Đô lưu luyến níu bước chân anh trước giờ biệt ly có ai không bùi ngùi...’’
* * *
Phú Quốc
là một ḥn đảo lớn nhất của Việt Nam , nằm trong vịnh Thái Lan, gần Cam-Bốt hơn
Việt Nam. Chiều dài 50 cây số, chiều ngang chỗ rộng nhất là 30 cây số. Trên máy
bay nh́n xuống, anh thấy toàn một màu xanh. Màu xanh của biển cả và màu xanh của
núi rừng. Hai cái màu xanh ấy được phân biệt bởi những đợt sóng bạc vỗ vào bờ.
Tự nhiên, anh thấy tâm hồn ḿnh lâng lâng, nhẹ nhàng như xa rời hẳn được những
mệt mỏi của cảnh phồn hoa đô thị và như đang được đưa vào một cảnh hư ảo, hoang
sơ. Lúc anh đến đảo, tất cả các đường bộ đều bị cắt đứt. Các ấp c̣n lại toàn nằm
sát ven biển và mọi sự giao thông đều phải dùng đường biển. Đảo chỉ c̣n lại hai
xă: xă Dương Đông nằm bên phía Tây gồm ba ấp Cửa Cạn, Dương Đông và Cây Dừa. Xă
Hàm Ninh nằm bên phía Đông gồm hai ấp Băi Bổn và Hàm Ninh. H́nh như c̣n một xă
Dương Tơ nằm phía trong đảo, đă bị xóa tên từ mấy năm qua. Trong năm ấp c̣n lại,
bốn ấp đă có hàng rào chiến lược, c̣n lại ấp Băi Bổn nằm phía ven đông bắc chưa
có hàng rào.
Những ngày đầu anh chưa biết làm ǵ, ngày ngày ngồi kư hàng chồng các bản sao khai sinh, hôn thú, những chứng từ thị thực, những giấy phép xuất nhập đảo... Sau đó, anh được nhân viên quận đưa đi thăm mọi người và mọi nơi trong quận lỵ. Anh sang xóm Cồn để ngửi mùi nồng thơm của biển và nh́n ngư dân ngồi vá lưới. Sang chợ cá để thấy cảnh ướt át, tấp nập chuyển cá lên bờ. Vào các hăng nước mắm Hồng Đại, Sáng Tươi, Huỳnh Thành Tựu,.. tự nhiên thấy ḿnh nhỏ bé, đứng dưới những hàng thùng khổng lồ và được chủ nhân cho nếm nước mắm cốt để từ mấy chục năm qua, thường dùng làm thuốc chữa bệnh. Đến xóm Quy Khu, thấy hàng dẫy nhà mới san sát do dân ở các vùng sôi đậu trở về lập cuộc đời mới.
Họ cũng không quên đưa anh lên thăm miếu Dinh Cậu ở cửa Dương Đông. Họ tin tưởng
rằng, ai mới đến đảo, nhớ đên thắp nén hương tŕnh diện sẽ được Cậu phù hộ che
chở. Chẳng bao lâu. anh quen gần hết mọi người. Ai lạ mặt từ đâu tới anh có thể
nhận diện được ngay. Anh làm việc với họ như trong một đại gia đ́nh. Ngày giỗ,
ngày kỵ, đám cưới, đám hỏi, họ không chịu quên anh. Ngày rằm, anh được sư ông
mời lên chùa lễ Phật và dùng cơm chay. Đầu tháng, anh đến thánh thất Cao Đài dự
cuộc hành lễ. Ngày lễ Công Giáo, lại thấy anh ngồi trong đám giáo dân nghe tiếng
vị linh mục giảng lẫn với gió biển trong một thánh đường cổ rêu phong có lẽ đă
được xây từ thế kỷ trước.
Có một lúc sự giao tế đă chiếm gần hết ngày giờ của anh. Sáng ra, ngồi hàng giờ
ở quán Phù Ngọc Lục ăn hủ tíu, uống cà phê. Chiều đến, lên nhà mát Sơn Hải do
Bảy Hiền, làm quản lư, ngồi nhậu các món biển nhúng dấm và nh́n mặt trời tṛn đỏ
ửng lặn dần xuống mặt biển. Có lúc lại ngồi trong nhà lồng chợ, ở quán Cù Đe tới
khuya mới trở về quận. H́nh như, dân chúng nơi xă, quận có một thói quen để ḍ
tính người; sau đó mới tỏ thái độ để hợp tác làm việc. Họ thường kính nể, cởi mở
và thành thật với những người ‘‘chịu chơi’’ với họ, nhất là trong vụ ăn nhậu.
Ngày trước, anh không uống nổi nửa ly bia mà trong những ngày ở đảo, anh cũng cố
theo họ đi từng ṿng uống đến chục ly cối, đắng cả miệng, nhưng anh cũng cố giữ
để không bao giờ bị gục. Nhiều lần, cố nể lời mấy chàng Địa Phương Quân hay
Nghĩa Quân ngồi quanh một chậu rượu đế, họ pha thêm những thứ ǵ mà anh không
được biết, uống đến xây xẩm cả mặt mày. Họ lại cố mời cho bằng đuợc để cho pha
thêm một ít giọt ‘‘Huyết hổ mang’’, cầm đũa gắp một miếng tiết canh rắn và ăn
một miếng chả trăn mà lần hành quân trước mấy người lính Miên đă bắt được trong
rừng. Anh cố ăn ra vẻ ngon lành, nhưng lúc về, nghĩ lại vẫn c̣n thấy ghê. Chẳng
bao lâu, anh từ một sinh viên mới ra trường, suốt đời sống ở thành thị, đă cố
chịu sự thử thách của người dân, của những người lính tiền đồn, anh đă nhập được
vào với họ, và anh thành một dân ‘‘chịu chơi’’. Chính anh, anh cũng đă vừa từ
một ḷ luyện thép được tôi ra, nên anh cũng chẳng từ chối những nhiệm vụ cùng
với họ trong các cuộc hành quân lập ấp mà chính phủ đă đặt chỉ tiêu cho đảo.
Phú Quốc lại gồm các ty, sở như một tỉnh nhỏ. Nhưng những công chức làm việc
trên đảo thường coi như bị đi đầy. Họ đếm từng ngày một để chóng được trở về đất
liền. Buồn nhất là nghe những người lính, bao nhiêu năm không được trở về đất
liền, bao nhiêu năm không được trở về quê hương thăm cha mẹ, họ hàng thân thuộc.
Những em nhỏ, nói đến Saigon như nghe truyện một giấc mơ, hay ở một thế giới
khác, mà nghĩ rằng cả đời ḿnh chắc khó có ngày đến đó được. Những cụ già từ xóm
xa, khi đến quận gặp anh vẫn chắp tay vái và gọi anh bằng ‘‘Quan’’. Dặn mấy ông
cụ bao nhiêu lần là chỉ cần gọi bằng ‘‘Ông’’, nhưng vừa được câu trước, đến câu
sau, các cụ lại quen miệng gọi là quan như thường. Đă sang đến thập niên 60 mà
khi hỏi các cụ, ai là người đứng đầu nước Việt Nam bây giờ. Các cụ vẫn trả lời
là ‘‘Vua Bảo Đại’’
Nhiều lúc anh ngồi nghĩ, trải qua bao nhiêu cuộc cách mạng, bao nhiêu cuộc chính
biển ở thượng tầng, những làn sóng, những âm ba đó đă chẳng thay đổi được những
tư tưởng ở chốn tận cùng này hay sao? Anh muốn mang một chút sinh khí mới cho
những sinh hoạt trên đảo. Anh hay hội họp với mọi người, khuyến khích tổ chức
các sinh hoạt tập thể hay các buổi tŕnh diễn văn nghệ công cộng, các ngày đi
chơi ở những ḥn đảo xa hay săn cá dưới biển...
Trong những buổi công chức học tập chính trị hàng tuần, nhiều lúc anh quên cả
cái nhiệm vụ là phải nói cho họ nghe những chủ thuyết nhân vị, cần lao... Anh
lại rẽ sang một ngă khác để họ tham gia bàn căi những vấn đề khác thiết thực,
những vấn đề căn bản chính trị và kinh tế, hay các mục thời sự quốc tế, quốc
nội... Một ông công chức già, đến nhắc khéo anh là phải cẩn thận. Anh nghĩ, kể
ḿnh cũng liều lĩnh và coi thường. Nhưng may, mấy đảng viên Cần Lao trên đảo
cũng là dân chịu chơi nên họ cũng chẳng báo cáo về ông ‘‘Cố vấn’’ làm ǵ
* * *
Năm ấy, trời lại cho được mùa cá, nên mọi người được thỏa thuê. Nhà gạch được
xây thêm, ghe thuyền có nhiều cái mới. Đêm đến đèn đất thắp sáng mọi nơi, ăn
uống nhậu nhẹt không ngừng. Nhiều hôm, anh ra khơi cùng ngư dân, đứng trên
thuyền nh́n những đám cá Bạc Má trải dài hàng mấy chục cây số dọc theo đảo. và
những đàn chim biển xà xuống để kiếm mồi. Họ chỉ cần chọn đàn cá nào lớn để bủa
lưới cho bơ công. Có khi gặp được đàn cá lớn, phải gọi thêm thuyền khác đến để
cùng mang về và thuyền nào cũng đầy ắp. Có đêm, anh lại theo họ neo thuyền để
thẻ mực. Đèn từ các con thuyền nhỏ thắp đầy biển như sao sa hay như một thành
phố nhỏ ngoài khơi. Nhiều khi nửa đêm chợt thức giấc, anh trở dậy đứng từ bên
quận, nh́n sang cồn, đèn đuốc sáng trưng và tiếng nói cười huyên náo của những
người gỡ cá vọng sang xóm quận. Anh cảm thấy cái vui cùng mọi người và hân hoan
như thấy những người trong gia đ́nh đi xa làm ăn, nay trở về mang theo tiền rừng
bạc biển.
Một hôm, đứng trong quận nh́n qua khung cửa lớn, anh bỗng thấy một đoàn gần chục
chiếc thuyền buồm lớn đang lừ lừ tiến về phía quận. Anh tưởng tượng ngay đến
những phim ảnh có cướp biển đă xem trước kia. Anh vội quay vào gọi mấy nhân viên
quận, họ cho biết đó là những dân B́nh Định lại vào đánh cá ở vùng này. Thường
thường khi hết mùa, họ lại đợi gió rong ruổi trở về quê. Nhưng năm nay, sau mùa
cá họ xin ở lại, v́ miền Trung chiến sự sôi động, bất an. Anh để họ định cư ở
xóm Cồn. Dân B́nh Định ngày càng vào đông, anh đổi tên và gọi xóm đó là xóm B́nh
Định.
Nhiều lần Hải Quân kéo ở đâu những chiếc tàu đánh cá của Thái Lan hay Tân Gia Ba
xâm phạm hải phận về, yêu cầu Quan Thuế và Quận lập biên bản. Biên bản lập xong
gửi về tỉnh, tỉnh gửi về trung ương, dân đánh cá vi phạm chờ hai ba tháng dài
người, có bao nhiêu đồ tế nhuyễn trong người đem bán hết. Nhiều khi, cuối cùng
quận lại phải nuôi ăn. Có lần, một du thuyền của một cặp vợ chồng người Úc dự
định đi ṿng quanh thế giới, hỏng máy dạt vào đảo, bị lính giữ để tŕnh về tỉnh.
Tối hôm đó, họ chữa được máy và lén trốn đi. Hơn một năm sau, về Saigon, anh
t́nh cờ đọc một tờ báo, có tin du thuyền này đă đến được Pháp, và họ cho biết đă
lạc vào một ḥn đảo Việt Nam và bị bắt giữ ở đó.
* * *
Ít lâu sau, chính phủ trung ương yêu cầu phải hoàn tất chương tŕnh ấp chiến
lược trên đảo và phát triển các dự án tự túc tại các ấp đă thành lập. Anh có dịp
quay lại các ấp xa để hội họp với dân chúng, nghe các lời b́nh nghị về các nhu
cầu, các dự án trong ấp. Sau đó để họ quyết định theo tính cách dân chủ, đa số.
Anh cố giữ một vai tṛ hướng dẫn và thường yêu cầu các ty sở chuyên môn chiết
tính về phần kỹ thuật, rồi chuyển về tỉnh xin chấp thuận. Hầu hết các dự án đều
dựa trên căn bản dân góp công, chính phủ góp ngân khoản. Các dự án này đều mang
lại lợi ích cần thiết và trực tiếp cho dân chúng như: mở rộng trạm y tế và hộ
sinh, làm thêm lớp học, pḥng đọc sách, sửa lại cầu tầu, làm cầu mới thay cầu
khỉ, làm nhà vệ sinh công cộng có mái che mưa hay đào thêm giếng.
Mỗi lần đi đến các ấp, anh thường nhờ ghe của Vũ Quốc Công, Thiếu Úy Hải Quân,
là bạn thân từ hồi c̣n ở trung học. Công cũng vừa ra trường Hải Quân Nha Trang
và cũng được đưa ra đảo nhận nhiệm vụ của một Đội Trưởng Hải Thuyền. Anh ta có
một số ghe ‘‘Kiên Giang’’ và một hai ghe chủ lực có mă lực mạnh, được trang bị
đại liên và đôi khi có súng cối 81 để pháo kích vào đảo. Mỗi lần thấy bạn từ
biển trở về, thân h́nh phong sương gầy rạc, mệt mỏi và ít nói, anh cảm thấy
thương bạn vô cùng. Nghĩ đến Công, hàng tuần dài trên chiếc ghe nhỏ, vượt sóng
để chỉ huy phong tỏa một vùng biển hay nằm một chỗ chịu những cơn sóng nhồi tại
một nút chặn trong đêm để khám phá những đường tiếp liệu từ Cam-Bốt vào Đồng
Tháp của Việt Cộng.
Những lần gặp lại bạn vào những ngày cuối tuần, hai người thường cùng bạn bè
ngồi ăn nhậu ở quán Cù Đe, rồi sang bên cạnh chia phe chơi bi da. Mỗi lần bên
thua phải chịu phần ‘‘mồi’’ hay ‘‘la de’’. Nhiều đêm cả hai bên, lúc thua lúc
được, ‘‘mồi’’ gom ra đầy bàn, la de chất thành đống, uống không hết. Có tên say
khướt, cầm can đẩy banh rồi nhào theo, gục trên bàn nằm luôn, dậy không nổi nữa.
Gần sáng, cả bọn mới lảo đảo trở về quận ngủ. Lũ chó hai bên đường lại được một
phen sủa vang làm náo động cả khu xóm. Có hôm trời tối đen, gặp toán tuần tiểu,
chúng đứng đằng xa quát:
- Ai, đứng lại.
Cả bọn cứ tỉnh bơ, bước thấp bước cao khiến chúng phải quát thêm và lên đạn
lách tách. Lúc đó cả bọn mới hốt hoảng, chỉ có thiếu uư Hoàng, Địa Phương Quân
cũng vừa mới ở Quân trường Thủ Đức ra, là cố gân cổ quát lại:
-Tao đây!
Toán tuần tiễu nhận ra tiếng bèn ùa đến:
-Các ông đi đâu khuya quá, để chúng em đưa về
Anh vội cám ơn họ và nói:
-Thôi để chúng tôi về một ḿnh cũng được.
Sáng sau Chủ Nhật, dậy muộn đi ăn sáng. Qua nhà cô Phụng, vợ nhỏ của một ông
đại tá ở Saigon, cô mặc bộ bà ba trắng đứng ở trong sân, dưới mấy gốc dừa, nói
vọng ra:
-Gớm hôm qua, các ông làm ǵ mà ồn ào, hát vang cả xóm làm tôi thức giấc, ngủ
lại không được nữa.
Cả bọn cùng đứng lại, tán chuyện gẫu và cùng nghĩ đến đêm trước, như một bọn
tây say... Buổi sáng thật êm, trời thật trong, biển thật xanh. Ánh nắng long
lanh đă bắt đầu hắt lên từ những gợn sóng nhỏ và gió mát ngoài xa thổi vào làm
vương mấy sợi tóc trên khuôn mặt trắng ngần của cô. Anh chợt nhớ cô hay nói cô
thường rữa mặt bằng nước dừa tươi.
* * *
Có lần, Công và anh măi không về được đất liền, cuồng cẳng. Tối Thứ Sáu, rủ nhau
lấy ghe chủ lực rời đảo vào Rạch Giá, định tối Chủ Nhật quay lại. Nhưng vừa ra
khỏi cửa biển, gặp hôm trời trở gió, biển động sóng đánh gần dựng ngược chiếc
ghe, không qua khỏi mũi Ông Đội, đành phải trở về. Một ngày cuối tuần, hai người
nghĩ ra chơi tṛ ‘‘Lỗ B́nh Sơn lạc vào hoang đảo’’, bèn rủ một số công chức trẻ
ra đảo ḥn Thơm. Mấy cô giáo Tàu cũng đ̣i đi theo. Anh và bạn giao hẹn với mọi
người không được mang một thức ăn nào theo. Ra ngoài đó, không có tiệm mua bán,
kiếm được thứ ǵ ăn thứ đó. Thử xem sao!...
Hôm đó, trời nắng dịu, biển êm như mặt hồ. Hai người nằm trên mui chiếc chủ lực,
nh́n những đám mây trắng hững hờ trên cao, nh́n những khu rừng bí hiểm dọc theo
đảo, và nghe một cô giáo Tàu vừa cất cao giọng hát bài ‘‘Cánh Hồng Trung Quốc’’
theo tiếng đàn lục huyền cầm của Minh, bên Ty Thanh Niên. Tiếng hát của cô trong
và nhẹ như một sợi nhạc bồng bềnh chạy dài, khiến anh mơ màng tưởng như con
thuyền muốn thoát hẳn lên cao...
Lúc tới ḥn Thơm, thuyền chưa cặp băi, một vài người đă cởi áo nhào xuống tắm.
Anh cũng đeo kính bơi vào mặt và cầm cây súng săn cá nhoài người nhẩy theo bọn
họ. Nước biển thật mát và trong nh́n xuống tận đáy, anh quẫy mạnh chân theo mấy
người bạn lặn xuống sâu. Trước mắt anh bổng hiện ra cả một rừng san hô kỳ ảo.
Những cây san hô trắng mọc cao hơn một thước chen lẫn với những cây màu nâu,
xanh, tím, hồng rực rỡ. Anh bơi theo những đàn cá lạ đủ màu, mà sau này anh
thường thấy được bày bán trong các tiệm cá nhiệt đới ở Mỹ. Thỉnh thoảng chúng
lại ngừng bơi ngơ ngác nh́n anh, như ngạc nhiên thấy một con vật lạ lùng đang
lạc vào thế giới riêng biệt của chúng.
Anh lặn và bơi quanh co theo những đoàn cá một hồi lâu, đến lúc ngoi lên bơi vào
bờ, cùng bàn tính đến chuyện không hiểu hôm nay mọi người sẽ kiếm được ǵ được
ǵ để ăn. Họ phân công, chia làm hai toán. Một toán mang shotgun lên núi kiếm
muông thú. Một toán mang mấy trái lựu đạn xuống biển ném cá. Anh định theo lên
núi, nhưng mọi người giữ anh lại đễ lặn xuống ṃ cá. Toán xuống biển đi dọc theo
băi và chọn một chỗ có những hang đá chắc là có cá. Kéo chốt an toàn và ném trái
lựu đạn xuống . Sau tiếng nổ ục ngầm dưới nước, những con cá quanh quẩn đó bị
sức ép choáng váng bơi không nổi và chỉ cần lặn ngay xuống để bắt. Nếu không
mau, chỉ trong chốc lát lũ cá sẽ tỉnh lại và bơi đi mất.
Khi mang cá lại chỗ cũ th́ củi lửa đă sẵn sàng để nướng và toán lên núi cũng
mang được vài con chim về. Nhưng lúc nướng xong, mọi người nhai không nổi v́
không có mắm muối ướp ǵ cả, nhạt tanh. Tội nghiệp cho mấy cô giáo bị một trận
đói meo. Có một tên ngồi trên mỏm đá nh́n mọi người ngắc ngư nuốt không nổi, ôm
bụng cười các ‘‘Lỗ B́nh Sơn tân thời’’ khiến cả bọn đến phát cáu. Mấy người bèn
nhào đến hùa nhau quăng hắn xuống biển. Hắn la ơi ới v́ không biết bơi và xin
cho t́m cách chuộc tội. Hắn xuống thuyền lục lọi một lúc, rồi mang lên một xâu
bánh ḿ với cá hộp, lại có cả la-de. Thảo nào lúc mọi người phân công đi kiếm
thức ăn, hắn không chụi đi, cứ tỉnh bơ t́m chỗ kẽ đá mát trải chăn nằm đọc
truyện.
Buổi chiều trở về, biển c̣n xanh, trời c̣n trong, gió c̣n nhẹ. Mọi người sau một
ngày hoạt động đều mệt mỏi, ngồi tựa vào thành thuyền yên lặng hay lim dim ngủ.
Chỉ c̣n nghe thấy tiếng máy chạy đều và tiếng nước róc rách ở mạn thuyền. Anh mơ
màng nghĩ đến những ngày đă qua, sống xa hẳn cuộc đời buồn nản không lối thoát
tại thành phố, nay lại được tự do nằm giữa vùng biển rộng trời cao. Tự nhiên,
anh nghĩ đến người ḿnh yêu, đang cùng bạn bè phóng xe ‘‘solex’’ trên đường phố,
hay đang ngồi cười rỡn tại quán mỳ Cây Nhăn Dakao ngày nào. Anh mong có người
yêu ở bên cạnh, trên con thuyền này, trong cảnh biển chiều mênh mông đang xuống.
Anh chắc, sẽ không c̣n nh́n thấy mọi người xung quanh, chỉ c̣n hai người trong
một vùng êm đềm, ảo mộng. Anh sẽ nắm lấy tay nàng và nghĩ đến một ngày nào đó,
anh sẽ mua một trong ḥn dảo nhỏ kia, sẽ có căn nhà bên ḍng suối, bên những ṿm
cây xanh mát, đầy những hoa lá vùng nhiệt đới. Hai người sẽ chạy nhẩy dưới những
rừng dừa cao, hay trên những băi cát trắng, không dấu chân người. Cùng tắm ở
những vũng biển san hô với những đàn cá bơi dỡn đủ màu. Sáng đến, chờ nắng biển
đông đánh thức để nghe tiếng chim rừng hót ngoài cửa sổ. Chiều xuống ngồi trên
ghềnh đá ở biển tây nh́n cảnh hoàng hôn rực đỏ chân trời. Lúc đó, hai người sẽ
chắc chẳng c̣n ǵ để nhớ.
Anh yêu ḥn đảo và sự tự do. Hàng ngày, anh nghe đài phát thanh tiếp vận từ
Saigon loan tin thời tiết: ‘’Hôm nay, Phú Quốc trời nhiều mây, hay có mưa...’’,
nhất là lúc đó ca sĩ Lệ Thu hay hát nhạc của Đoàn Chuẩn và Từ Linh, trong đó có
câu: ‘’Nhớ tới mùa thu năm xưa, ḿnh anh lênh đênh rừng cùng sông, chiếc lá thu
vàng dần rơi...’’, anh tin rằng nàng cũng đang nghe và đă nhắc nhở nàng nhớ đến
anh ở một nơi tận cùng của đất nước...

Mọi người trên ghe đều yên lặng. Tự nhiên, anh lại nghĩ đến những sự mệt mỏi và
vô vọng của một cuộc chiến tranh dài đằng đẵng. Anh mong rằng, trong giây phút
này, mọi người cũng đang mơ màng và cũng đang có những giấc mộng đẹp như anh.
Anh không dám cựa ḿnh, và để từ từ lịm dần trong giấc mơ mà ḿnh đang sống...
* * *
Anh lấy thuyền đi Cửa Cạn. Những ngày trời yên biển lặng, thường có cá heo bơi
đến dỡn sóng đua cạnh thuyền. Đôi lúc anh có thể lấy tay xoa đầu nhẵn bóng của
chúng. Lúc vào Cửa Cạn, mọi người thường không dám ngồi ĺ trên thuyền để vào
tận ấp, sợ Việt Cộng trên núi bắn xuống, thường phải lội qua cồn cát rồi gọi ghe
sang đón. Có lần đến, họ cho anh xem một con cá sấu lớn bốn người khiêng c̣n
nặng, bị trói gô dọc theo một thân cây lớn. Con sấu này, ít lâu nay thường đến
phá chỗ con lạch mọi người tắm giặt. Họ cố dùng súng bắn đuổi mà không được. Sau
đó, họ lập mưu, làm một lưỡi câu lớn, buộc vào ḿnh một con vịt thả trên ḍng
nước. Dây câu là một cuốn thừng nylon không thể đứt. Chờ đến nửa đêm, lính trong
đồn canh nghe tiếng quẫy nước ầm ầm, dọi đèn biết là con sấu đă cắn mồi và mắc
câu. Nó mạnh quá, vùng vẫy nhổ luôn cọc thuyền và kéo chiếc tam bản theo con
lạch vào sâu trong đảo. Sáng ra, mọi người đem súng ống, để đề pḥng Việt Cộng,
theo ghe máy ngược ḍng đến hai ba cây số mới t́m thấy dấu vết. Sau một hồi vật
lộn, hết hơi, măi mới chụp nổi nó.
* * *
Ấp Cây Dừa nằm dưới phía Nam đảo, gồm căn cứ chỉ
huy Duyên Khu 4, một sân bay quân sự và một số dân cư. Dân chúng trong ấp ngoài
số nhỏ là dân địa phương, c̣n lại phần lớn là dân di cư Ba Làng từ miền Bắc
Trung Việt vượt biển vào Nam t́m tự do năm 1954. Lần nào đến ấp, anh cũng thường
đến thăm cha xứ Hoàng Văn Cung trước, cha rất vui tính và thế nào tối đó cũng
được cha khoản đăi món cháo gà do ông trưởng ấp Niệm làm. Có khi
lại được ăn món ‘‘Biên Mai’’ một loại nghêu rất ngon do mấy người bạn bên Hải
Quân mời đến nhậu. Toàn ấp, kể cả căn cứ của duyên khu đều trông cậy vào sự bảo
vệ vùng ngoài của một trung đội nghĩa quân, hầu hết là dân công giáo, trang bị
vũ khí cơ bản, nhưng du kích địa phương cũng rất ít khi đến trêu chọc. Anh nhớ
lại những buổi chiều ở Cây Dừa, anh thường lang thang một ḿnh đi bộ ra sân bay,
đứng trên những vỉ sắt ở đầu phi đạo, nh́n những đám cỏ may trên những cồn cát
phía biển chạy vờn với gió về phía cuối đảo, tự nhiên làm cho anh thấy một cái
ǵ mong nhớ xa xôi. H́nh như những đám cỏ may thường làm cho người ta gợi nhớ
đến dĩ văng
* * *
Anh sang phía đông đảo, đến ấp Hàm Ninh, bờ biển nông và soải dài, thuyền lớn
thường phải đậu ngoài xa và chờ ghe nhỏ ra đón. Ấp có độ dưới một trăm dân và
một trung đội địa phương quân mà quân số chắc chỉ có một nửa sống trong một ṿng
đai nhỏ hẹp. Đứng ở đâu trong ấp cũng thấy hàng rào chiến lược gần ngay trước
mặt, cứ lớ ngớ là rất dễ bị Việt Cộng bên ngoài bắn sẻ. V́ thế, sau này đi đâu
xa, anh thường được khuyên là nên mặc bà ba đen, đừng mặc quần tây áo trắng. Có
những lúc anh ngồi họp với hội đồng xă và đồn trưởng anh tưởng tượng như đang
sống trong cái thời của phim ‘Bảy Chàng Hiệp Sĩ’’ của Nhật.
Những bữa ăn do hội đồng xă thết chỉ toàn là ghẹ. Anh chưa thấy có những con ghẹ
ở đâu ngon như ghẹ Hàm Ninh, to gần như con cua, nó đỏ như gạch, thịt đầy và
ngọt lừ. Họ cho anh ăn hết ghẹ luộc, ghẹ rang muối rồi cả đến cơm ghẹ v.v... C̣n
những nồi nghêu, buổi chiều họ đi cào về trắng phau, đầy đặn ăn thật tuyệt. Có
lần họ mang về một con rít, đó là một loài rùa biển to gần đến một thước, ăn tàm
tạm được, nhưng không được ngon như những con rùa nướng ở Cần Thơ hay Long
Xuyên.
Những ngày ở đó, mỗi khi xong việc anh phải chờ ghe đến đón, nên rỗi răi. Anh
hay đi nhặt các đầu khỉ khô, trắng nằm trên cát sau nhà của các tay thợ săn, rửa
cho sạch sẽ trông như những cái đầu lâu tí hon rồi gởi về cho các bạn ở Saigon.
Nhiều lần anh theo Thiếu Úy B́nh, đồn trưởng, đi sâu vào đảo săn thú. Anh ta là
một tay thiện xạ, bắn được rất nh́ều thú rừng thường mang về cho lính và dân
trong ấp ăn, nhưng chẳng bao giờ anh ta ăn cả. Có lần gặp một đoàn khỉ, bị lùa
lên một cây giữa khoảng trống, chúng hốt hoảng, nhẩy chuyền từ cành này sang
cành nọ. Lính ở dưới cứ việc nhắm và bắn rụng từng con rơi bồm bộp trên đất.
Đứng nh́n thấy thật là thương, khiến anh phải bảo họ thôi đừng bắn nữa.
Một lần bắn được một con nai đang nhú sừng non, người ta thường gọi là nhung
non; một anh lính bèn cắt ngang và hút. Không hiểu chất đó bổ đến mức nào mà làm
anh ta lăn quay ra như người bị say rượu. Nhưng mệt nhất là đuổi theo mấy chú
heo rừng, chúng rất khỏe, chạy nhanh và luồn cũng khéo. Có lần, anh chạy theo
Thiếu Úy B́nh hụt hơi và lạc luôn. Rừng lại khá rậm, lúc có một ḿnh, định
phương hướng t́m đường về ấp, nghĩ đă chẳng săn được con nào mà bị Việt Cộng săn
lại th́ thật là lăng nhắch.
* * *
Anh rời Hàm Ninh đi lên ấp Băi Bổn. Ấp này nằm phía ven đông bắc của đảo, bất an
v́ chưa lập được hàng rào chiến lược. Thường thuyền phải đi ṿng xuống phía nam
rồi ngược lên, hơi xa, nhưng an ninh hơn nếu đi ṿng lên phía bắc từ Dương Đông
bằng tàu nhỏ. Lúc đi gần giữa eo biển nhỏ giữa Việt Nam và Cam Bốt, chỉ sợ Việt
Cộng trong đảo bắn ra, và nếu có gặp chiến hạm của Cam Bốt ăn hiếp, đổ thừa là
vi phạm hải phận cũng chẳng có ai làm chứng.
Lúc ngồi bập bềnh trên ghe, chờ thuyền nhỏ ra đón, anh nh́n vào khu rừng dừa của
ấp Băi Bổn chạy dài theo ven biển, thấp thoáng một vài căn nhà lá và những bóng
người. Đôi lúc anh tưởng như có những người trai ḿnh trần, lực lưỡng đang sửa
soạn đánh những tiếng trống bập bùng và những cô gái đảo đang sửa soạn những
ṿng hoa để quàng vào cổ những khách lạ. Càng sát bờ, biển càng nông. Mọi người
thường phải xuống lội nước một quăng khá xa. Biển ở đây có rất nhiều con đồn đột
đen và những con sao biển màu đỏ nằm soải năm cánh trên cả một vùng cát.
Thường thường đến ấp này anh hay đi với Đại Uư Hùng, chỉ huy trưởng địa phương
quân trên đảo, và một toán thám báo mà đến một nửa là người Việt gốc Miên. Lần
nào, cũng đến tạm trú tại nhà một ông già quắc thước ở giữa ấp, h́nh như có cái
tên là Tám Vân. Nói là tạm trú, nhưng không ai nằm ở trong nhà cả, chỉ nhờ bếp
để làm bữa ăn. Anh nghe đâu, ông Tám Vân hồi trước đă từng là đầu đảng cướp
biển, nhưng được một cái là ông hay phân phát lại cho các kẻ nghèo. Ấp Băi Bốn
cũng không có quá nổi một trăm dân, chưa có tổ chức hành chánh, cũng không có
một lực lượng nào bảo vệ, lại quá bị cô lập. Dân chúng ở đây, trước kia thường
giao dịch với các thành phố ven biển của Cam-Bốt hơn là với Việt Nam.
Những chiều ở đó, anh thường lội nước dọc theo những hàng dừa hay ra ngoài xa
nhặt những con sao biển cho đến khi gần tối, hôm nào trời trong có thể nh́n thấy
le loi ánh đèn trên đỉnh núi Bokor của Cam-Bốt mới trở về. Buổi tối anh và Đại
Úy Hùng thường ngồi trên nhà sàn, dựa lưng vào những ba-lô ngồi uống nước nh́n
ra biển tối ngoài xa, và nghe những tiếng đêm ở xung quanh vọng lại.
Đại Úy Hùng hơn tuổi anh, hay nói chuyện gẫu, có lần anh ta tâm sự:
-Ḿnh sinh ra măi tận ngoài Bắc mà không hiểu sao lại phải đến tận chỗ này.
Hồi 1946, tôi là tự vệ thành rồi theo kháng chiến chống Pháp. Măi sau mới trở về
Hà Nội, học hành dang dở, kiếm việc không ra bèn vào làm sĩ quan Bảo Chính Đoàn.
Khi ấy chỉ huy các đội khinh binh, đóng hết đồn này đến đồn khác trong vùng châu
thổ sông Hồng. Nhiều lúc mất đồn, chạy dài chỉ c̣n quần xà lỏn.
Anh thấy hồi đó càng thua, càng chạy th́ bây giờ Đại Úy Hùng lại là người có
nhiều kinh nghiệm chiến trường. Từ ngày đến đảo, anh ta đă làm cho du kích địa
phương nhiều trận xiểng liểng, lính không bị chết. Hàng ngày đối diện với du
kích, Đại Úy Hùng như muốn dở tṛ chơi đấu cờ với chúng, lúc đánh dử, lúc đánh
lừa, đi một nước nhưng tính đến ba bốn nước khiến chúng không biết đâu mà lường.
Có lần anh ta lừa bắt được tên Huyện Ủy, trong lúc sửa soạn giải về tỉnh th́ hắn
ta tự sát trong pḥng giam.
Mỗi lần ở ấp này, trước khi đi ngủ, Đại Úy Hùng thường cắt đặt toán thám báo nằm
ở các bờ bụi xung quanh và cố ư nói to có lẽ để cho Việt Cộng đâu đó biết là sẽ
nằm trong nhà ông Tám Vân. Lúc vào nhà, anh và Đại Úy Hùng cũng cố nói chuyện
thật lớn một hồi lâu, rồi cả hai cùng lén ra ngoài bụi nằm. Ngay cả toán thám
báo cũng không biết chỗ nào nữa.
Sáng sau, mọi người đi nghiên cứu địa thể để lập ấp chiến lược. Dân th́ ít, ấp
th́ trải dài. Di dân vào một chỗ cũng rất là phiền, mất nhiều công. Sau khi
nghiên cứu và vẽ họa đồ xong, hôm sau có thuyền đón trở về quân để lập kế hoạch.
Lần nào rời ấp Băi Bổn, lúc ngồi trên ghe, nh́n lại đám dừa xanh, anh cũng tưởng
như chắc lần này là lần cuối anh c̣n có thể đến được nơi này. Theo anh, nếu cứ
để nguyên như thế này th́ may ra c̣n ấp, nếu đă cố làm hàng rào chiến lược, th́
Việt Cộng chắc không để yên, tiếp cứu cũng chẳng nổi, và ấp sẽ tan tành. Nhưng
chính sách của chính phủ đă có, chỉ tiêu đă đề ra và quận cứ việc thi hành...
Lần đó trở về quận, anh viết được một bài tùy bút dài ‘’Mây Bay Qua Đảo’’, với
tất cả tấm ḷng yêu đảo cho đặc san Phú Quốc. Bài tùy bút này sau khi anh rời
đảo, họ vẫn c̣n mang ra đăng đi đăng lại nhiều lần.
* * *
Mùa mưa đến trên đảo thật là dầm dề và dai dẳng. Có những lần mưa gió hàng tháng
không dứt. Mây mù bay từ biển vào sà gần xuống mặt đất. Cả tháng không nh́n thấy
trời, không nh́n thấy màu xanh của núi rừng, không nh́n thấy chân trời giáp với
mặt biển. Nước mưa từ trên ngàn đổ xuống, chảy như nước lũ, dâng tràn lên mặt
đường, mấp mé các nhà sàn hai bên bờ con sông nhỏ. Nhiều buổi chiều, nghe gió hú
và đứng nh́n các ngọn dừa bị gió giật từng hồi uốn cong xuống xác xơ. Những lần
đó, quận thường ra thông cáo yêu cầu phải giữ trẻ trong nhà, đừng để gần sông
trượt chân rất dễ bị trôi ra biển. Nhiều gia đ́nh phải vào nhà lồng chợ trú ẩn.
Không có thuyền nào dám ra khơi, không có tàu chở hàng nào từ Rạch Giá trở về.
Bữa ăn nào cũng trở nên đạm bạc. Thỉnh thoảng mới có một ít thịt, một ít rau, và
ngay cả cá cũng không có. Máy bay dân sự hồi đó mỗi tuần mới có một chuyến. Một
hôm, ngồi buồn không biết làm ǵ, mở máy ḍ các đài xem có tin ǵ mới lạ hay
không, th́ bỗng bắt được lời nhắn của Trưởng Đài Khí Tượng Phú Quốc với Trưởng
Đài Rạch Giá, gửi ba kí thịt ḅ và rau vào chuyến máy bay tới. Đại Úy Hùng nghe
thấy cười lớn, tuần này chắc có thịt ḅ nhúng dấm rồi. Gia đ́nh Khí Tượng này
không hiểu có một thiên t́nh sử ra sao mà họ có một đời sống khá ly kỳ. Bà vợ
không bao giờ thấy ra ngoài, chỉ thấy ông chồng lù dù ngày ngày yên lặng xách rỏ
đi chợ. Một hôm, Đại Úy Hùng từ băi biển trở về, cứ thắc mắc hoài với anh v́
nh́n thấy một người đàn bà mặc áo tắm kiểu tân kỳ, đang nằm trên ghế xích đu,
chỗ băi biển Đài Khí Tượng. Hỏi lính th́ mới biết đó là bà vợ ông Khí Tượng. Sau
này, anh c̣n được biết thêm hai vợ chồng đổi từ đảo Hoàng Sa về đây. Họ ở đó sáu
năm trời. Chắc những ai mà đến đó, th́ c̣n thắc mắc hơn Đại Úy Hùng nhiều.
Những tuần mưa gió như thế, cả quận chỉ mong chờ ngày có chuyến mày bay chóng
đến. Nhiều lúc đứng trong quận, nghe tiếng máy bay vừa mừng lại vừa thấy cái hy
vọng mong manh. Có lúc thấy tiếng máy bay thật thấp, ẩn hiện chớp nhoáng trong
đám mây mù, đảo quang một hai ṿng rồi bay đi mất hút để cả quận ngơ ngẩn. Giống
như cái cảnh bao nhiêu ngằy kiệt quệ lênh đênh trên biển, không biết đâu là bến
bờ, thấp thoáng thấy có bóng chiếc tàu ở đằng xa, nhưng chỉ trong chốc lát lại
mất dạng.
Cả bọn nghĩ không biết phải làm ǵ cho qua một tuần sắp tới, bèn đứng rủa thầm
anh chàng phi công nhát gan. Có lần, một anh phi công Đài Loan liều đáp xuống từ
phía biển vào bị gió thổi chạy văng ra ngoài phi đạo. Hút chết, không đâm vào
núi là may. Quận lại phải đem xe Dodge 4, lấy dây buộc đuôi kéo ngược trở lại.
Những tuần đó không có việc, chỉ luẩn quẩn quanh văn pḥng. Không có ma nào ṃ
đến. Quận thường đóng cửa kín mít, chỉ sợ gió mạnh làm bật tung các cửa, thổi
loạn các giấy tờ bay tứ tung, phải nhặt và xếp lại cũng đủ mệt. Ngồi không, hút
thuốc đến đen cả mấy đầu ngón tay, phải đổi sang hút ống điếu. Anh thường nhờ
bạn bè ở Saigon gửi ra hai loại thuốc 79 và Half and Half để trộn lẫn với nhau.
Hôm đầu, anh mang ra hút, mùi thơm làm tỉnh mấy anh thư kư quận đang ngồi nh́n
mưa rơi buồn hiu, và làm ngưng cả tiếng vọng cổ rầu rĩ của mấy tay nghĩa quân
dưới nhà. Cả bọn tưởng như trong không gian có cái ǵ làm thay đổi khứu giác của
họ. Lúc sau, họ mới khám phá ra anh đang hút ống điếu. Tất cả nhao nhao ùa lại
mỗi người xin một ít để làm thuốc quấn, thi nhau thả khói làm thơm lừng văn
pḥng quận. Nhiều hôm vừa mưa lại vừa nóng, anh thường mở cửa sổ đứng nh́n ra
biển lấy một chút gió. Mùa này là mùa ruốc, dân chài cũng thường ra khơi để vớt
về làm mắm. Cá voi cũng về, chỉ việc há mồm đón những đàn ruốc bơi qua cuống
họng, thỉnh thoảng chúng lấy hơi phun những cột nước bắn lên cao.
Ai cũng nghĩ lúc này mà tụ họp nhau ăn nhậu th́ không c̣n ǵ bằng. Nhưng ‘‘mồi’’
th́ không dễ kiếm ra. Tối đến, mấy tay thư kư quận rủ nhau nai nịt, lội mưa cầm
đèn băo đi lùng ếch. Cứ chỗ nào nghe tiếng ồm ộp là ṃ vào rọi đèn, thế nào cũng
chộp được một con. Có tối mang về được vài chục con ếch non, tẩm bột đem chiên,
ăn được cả xương, ngon hơn thịt gà. Có ‘‘mồi’’ nhưng rượu lại càng hiếm. Ngày
thường ngư dân uống đă nhiều, ngày băo ngồi không lại càng uống dữ hơn nữa. Có
một điều làm anh phải giật ḿnh khi làm các con số thông kê các hàng xuất nhập
đảo. Số xăng nhập vào đảo đă nhiều cho thuyền bè đánh cá, mà số lít rượu nhập
vào c̣n cao hơn. Anh yêu cầu cộng lại, nhưng mấy người thư kư ở lâu trên đảo, họ
thấy chẳng ngạc nhiên chút nào.
* * *
Cuối cùng chẳng biết làm ǵ cho qua những ngày băo biển, anh vào trong kho lục
trong đống văn khố xem có ǵ đáng đọc hay không. Anh mang ra từng chồng sách
xuất bản từ Hà Nội đă tịch thu được trong cuộc hành quân trên vùng Bắc đảo năm
trước. Những sách khảo cứu về Dược Thảo Việt Nam, chắc để cho du kích dùng mỗi
khi thiếu thuốc bào chế. Những sách về Khảo Cổ, Lịch Sử và Văn Học viết sặc mùi
Mác-xít, mị giai cấp công nông, đọc không nổi. Anh t́m được một quyển Địa Phương
Chí của đảo, khiến anh nghiền ngẫm đến mấy ngày liền và là một cái cớ khởi đầu
để anh có dịp đi gặp các cụ già trên đảo t́m hiểu thêm về các sử liệu, các dấu
vết cổ xưa, kể cả các truyện truyền kỳ, huyền thoại.
Anh mở rộng tấm bản đồ với đầy đủ các ḥn đảo của Việt Nam trong vịnh Thái Lan.
Những cái tên nghe mường tượng như từ một thời cổ xưa lập địa với những Ḥn Đồi
Mồi, Ḥn Kiến Vàng, Ḥn Khoai, Ḥn Thơm, Ḥn Nước, Ḥn Rùa, Ḥn Tre, Ḥn Nước,
Ḥn Tre Lớn, Ḥn Tre Nhỏ, Ḥn Thổ Châu và Ḥn Hải Tặc... mà nhiều ḥn trong suốt
thời gian ở đó anh không có dịp đến. Anh đọc tới những trang sau, những truyện
có thật mà tưởng như truyền kỳ của một ḥn đảo thường gọi là xứ của 99 ngọn núi,
ư nói có nhiều núi lắm. Những chứng tích c̣n lại, như nhũng bí mật của Chùa Sư
Muôn. Những câu sấm của ông Đốc Phủ Chiêu với Chùa Cao Đài trên núi, mộ của
những ông cố đạo ngoại quốc không hiểu từ đâu đến truyền giáo, có những cái tên
lạ hoắc được chôn ở băi biển sau quận từ thế kỷ trước mà những buổi chiều hè,
lúc anh tắm biển xong thường ngồi nghỉ trên những tấm mộ xiêu đổ nh́n ra biển
ngắm cảnh hoàng hôn. Cái Giếng Tiên bên bờ sông bên bờ sông Dương Đông nước mặn
mà nước giếng vẫn ngọt. C̣n những đền thờ cá ‘‘Ông’’ rải rác trên đảo. Nhưng khi
anh có dịp đến thăm th́ đă chẳng được ngư dân thờ phụng như trước nửa, chỉ c̣n
chổng chơ vài cái xương cá voi khổng lồ cũ kỹ...
Có một số trang sách liên quan đến sử liệu như thời của ông Nguyễn Ánh, Nguyễn
Trung Trực và thời kỳ quân đội Nhật, Trung hoa trong và sau Thế Chiến Thứ Hai
trên đảo. Ông Nguyễn Trung Trực nổi lên chống Pháp, lúc thất thế phải chạy ra
Phú Quốc, nương náu ở ấp Cửa Cạn. Cuối cùng ông vẫn bị truy lùng. Lúc quá quẫn,
ông không thể đem theo được đứa con nhỏ, bèn treo lại trên cây mong dân Cửa Cạn
mang về nuôi giúp. Nhưng không hiểu dân ở đó không t́m ra hay đă làm lơ để đứa
trẻ đó chết. Do đó, dân chúng tin rằng oan hồn cứ vất vưởng ở ấp làm đàn bà ở
Cửa Cạn sanh ra khó khăn và trẻ sơ sinh thường hay chết yểu. Anh muốn phá bỏ cái
truyền kỳ độc ác đó, nên đề nghị với dân chúng sửa sang lại nhà hộ sinh và
chuyển một cô đỡ hương thôn về và yêu cầu Chi Y Tế cung cấp thêm thuốc men cho
ấp Cửa Cạn.
Có một thời kỳ lịch sử cận đại của đảo mà được rất ít người nhắc đến, đó là
những ngày quân Nhật chiếm đóng trên đảo trong Thế Chiến Thứ Hai. Họ đă chở đến
hàng trăm tù binh để lập một sân bay lớn ở Cửa Cạn, dùng nơi đó làm căn cứ Không
Quân Chiến Lược tấn công Tân Gia Ba. Một số người trên đảo vẫn c̣n nhớ cái cảnh
từng đoàn tù binh đói ăn, gầy guộc phá rừng, san đất dưới ánh lưỡi lê của bọn
lính Nhật. Ngày ngày, máy bay lên xuống từng đoàn, bụi mù cả một vùng. Ngày Tân
Gia Ba thất thủ, quân Nhật ăn mừng bắn súng vang cả đảo. Anh cố t́m một số chứng
tích của thời Nhật, nhưng không có dịp, chỉ thỉnh thoảng c̣n gặp được một vài
người nói đuợc một ít câu tiếng Nhật nhờ thời gian làm thông ngôn cho họ.
Đảo Phú Quốc, một lần nữa lại phải để cho một sư đoàn tàn quân Trung Hoa Quốc
Dân Đảng đến tá túc, sau khi bị Hồng Quân của Mao Trạch Đông vượt qua sông Dương
Tử tràn xuống phía Nam và đẩy họ qua biên giới Việt Nam, h́nh như vào khoảng
những năm đầu của thập niên năm mươi. Chính quyền Pháp hồi đó không biết giải
quyết ra sao, nên phải giải giới và tập trung họ trên đảo. Ít lâu sau, Tưởng
Giới Thạch củng cố được lực lượng tại Đài Loan, và họ có dịp trở về. Một số nhỏ
Quốc Quân không muốn hồi hương đă ở lại, lấy vợ Việt Nam và sinh cơ lập nghiệp
trong các vườn tiêu trên đảo.
Có một điều, anh thấy rất ít tướng lănh, ngay cả sĩ quan phục vụ trên đảo biết
đến tính cách chiến lược của ḥn đảo đă được dùng để khống chế vịnh Thái Lan
trong Thế Chiến Thứ Hai, biết đến những hiểm địa của Nguyễn Trung Trực lúc kháng
Pháp và của Nguyễn Ánh khi lánh nạn Tây Sơn, mà sau này ông đă dựng được nghiệp
lớn. Có lẽ, v́ thế mà Việt Cộng cứ đi lại tự do trên chín mươi phần trăm đất
trên đảo, mà Quốc Gia chỉ có vỏn vẹn vài ấp rạt sát ven biển.
Ít năm sau, anh có dịp đi du hành quan sát tại Đài Loan, tổ chức bởi Trường Cao
Đẳng Quốc Pḥng Việt Nam mà anh theo học. Trên chuyến bay từ Đài Bắc ra đảo Kim
Môn, Mă Tổ nằm sát ngay bờ biển Trung Hoa lục địa, lúc gần tới, phi cơ phải bay
gần sát mặt biển để tránh tầm máy ḍ ra-đa của Trung Cộng. Một vị Đại Tá Trung
Hoa, hướng dẫn phái đoàn, ngồi cạnh anh hỏi chuyện, anh làm những ǵ và ở đâu.
Anh có nhắc đến thời gian ở Phú Quốc. Ông ta mừng rỡ và nói ngay, ông ta đă ở
trong đám Quốc Quân hồi đó. Ông kể rất rành mạch các địa danh trên đảo và có hỏi
thăm anh về khu nghĩa trang của các Quốc Quân đă bỏ ḿnh tại đó được chôn cất
sát sân bay Dương Đông. Hồi anh ở đảo, thỉnh thoảng anh lại nhận được công điện
yêu cầu tiếp phái đoàn Trung Hoa Quốc Gia đến chỉnh trang nghĩa địa và thăm
viếng các chiến hữu của họ đă nằm xuống mấy chục năm về trước.
* * *
Có một trang trong cuốn địa phương chí nói đến tên bà Kim Giao. Anh không rơ sự
liên hệ của gia đ́nh bà với triều nhà Nguyễn ra sao, chỉ biết khi nhà Tây Sơn
nổi lên chiếm miền trong và Nguyễn Ánh phải lánh nạn ở Phú Quốc, bà cũng đem
theo gia nhân và năm mươi con trâu ra đảo, nghĩ đến việc khai phá và lập nghiệp
lâu dài. Công cuộc của bà đă thất bại, không hiểu v́ quân Tây Sơn đến đánh phá
hay đất trên đảo không thích hợp cho sự trồng trọt. Ít lâu sau bà mất, gia nhân
bỏ trốn dần về đất liền và đàn trâu xổng chuồng thành một lũ trâu rừng lang
thang trên đảo.
Anh vội t́m cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, muốn đi ngược lại ḍng
thời gian để t́m một vài niên hiệu và những ǵ đă xảy ra trong thời bà c̣n sống
trên đảo. Anh giở lại những trang sử nói về anh em nhà Tây Sơn và lúc Nguyễn Ánh
lánh nạn, có những đoạn liên quan đến đảo như sau: ‘‘ Tháng Ba năm Nhâm Dần
(1782), vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, đem hơn một trăm chiếc thuyền
vào cửa Cần Giờ đánh nhau với Nguyễn Vương ở Thất Kỳ Giang tức Ngă Bảy. Trận ấy
quân Nguyễn Vương thua to có người Pháp tên là Mạn Ḥe (Manuel) làm chủ một
chiếc tàu phải đốt tàu mà chết. Nguyễn Vuơng phải bỏ thành Saigon về đất Tam Phụ
(Ba Giồng) rồi ra lánh ở đảo Phú Quốc.’’
‘‘Lúc bấy giờ lương thực hết sạch, Nguyễn Vương cùng với người đi theo phải hái rau và t́m củ chuối mà ăn, thế lực cùng kiệt, thật là nguy nan quá. Nhân v́ khi trước Nguyễn Vuơng có quen một người nước Pháp làm giám mục đạo Gia Tô, tên là Bá Đa Lộc, khi đó đang ở Thái Lan, ngài bèn sai người đến bàn việc. Ông Bá Đa Lộc nói nên sang cầu cứu nước Pháp, nhưng phải cho hoàng tử đi làm tin th́ mới được’’
Năm 1784, sau khi thua ở Sài-Côn, Châu Văn Tiếp cùng Nguyễn Vương sang Thái Lan cầu cứu. ‘‘Vua Thái Lan tiếp đăi Nguyễn Vương rất hậu và sai hai tướng là Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 2 vạn quân cùng ba trăm chiếc thuyền sang giúp. Quân Thái Lan lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thích, Sa Đéc. Khi đánh ở Mân Thích, Châu Văn Tiếp ỷ thế đi đến đâu quấy nhiều dân sự đến đó, làm nhiều điều tàn ác cho nên ḷng dân oán hận lắm’’
‘‘ Nguyễn Huệ vào đến Gia Định nhử quân Thái Lan đến gần Rạch-Gằm và Xoài Mút ở
phía trên Mỹ Tho, rồi đánh phá một trận, giết quân Thái Lan chỉ c̣n được vài
ngàn người chạy theo đường thượng đạo trốn về nước. Nguyễn Huệ phá được quân
Thái Lan rồi đem binh đuổi đánh Nguyễn Vương. Nguyễn Vương bấy giờ hết cả lương
thực cùng với mấy người chạy về Trấn Giang, ra đảo Thổ Châu, đảo Cổ Cốt, rồi
sang Tiêm La’’
Ít lâu sau, anh em nhà Tây Sơn bất ḥa với nhau và ngày càng suy nhược. Ở các
nơi nhiều đảng lại theo về chúa Nguyễn, nổi lên đánh phá làm cho quân Tây Sơn
giữ không nổi. Nguyễn Vương đang ở Thái Lan ‘‘được tin đất Gia Định có thể lấy
được, Vương bèn để thư lại từ tạ vua Thái Lan, rồi nửa đêm đem Vương mẫu cùng
cung quyến xuống thuyền về nước. Bấy giờ là tháng Bảy năm Đinh Tỵ 1787. Nguyễn
Vương đi qua đảo Cổ Cốt, có người nhà Thanh tên là Hà Hy Văn thuộc Thiên Địa Hội
đem mấy người đến xin theo giúp. Vương về đến Hà Tiên, cho người đưa Vương Mẫu
và cung quyến ra Phú Quốc, rồi cùng mọi người về đóng ở Long Xuyên’’ Hai năm
sau, 1789, Nguyễn Vương lấy lại được toàn đất Gia Định và 13 năm sau, năm 1802,
Nguyễn Vương thống nhất sơn hà và lập nên triều Nguyễn.
* * *
Anh gập cuốn sử lại, nghĩ đến những thờ́ gian nguy khốn của Nguyễn Ánh, nghĩ đến
những ngày long đong trên biển chơi tṛ đuổi bắt với Nguyễn Huệ. Anh lại nhớ đến
những truyện truyền kỳ về Nguyễn Ánh được cá voi giữ thuyền cho khỏi đắm trong
cơn giông băo, nhớ đến những con cá họ đem bày bán ở chợ, trên lưng có dấu năm
đầu ngón tay. Hỏi mấy ông cụ già th́ được biết, khi thuyền Nguyễn Ánh trôi trên
biển, hết lương thực, đói quá, có đàn cá bơi lại hiến ḿnh và Nguyễn Ánh đă cầm
lấy để ăn. Sau này, Nguyễn Ánh lập xong nghiệp lớn và những con cá đó đă được
mang trên ḿnh dấu tay của một chân mạng đế vương .
Nhưng có một h́nh ảnh mà anh đă h́nh dung ra và đă theo anh măi trong những ngày
ở trên đảo và cả sau này nữa, đó là đàn trâu của bà Kim Giao. Tính ra những con
trâu này đă được mang ra đảo vào khoảng gần 200 năm truớc, hiền lành chỉ biết
cần cù, gia sức cầy bừa, nhưng sau này con cháu của chúng lại trở thành một lũ
trâu rừng lang thang... Anh có dịp nói chuyện với một số dân trong rẫy, ngoài
ṿng ấp chiến lược, họ cho biết đàn trâu chỉ c̣n lại hai con. Năm trước một con
đă bị bắn chết. Nghe đến đó tự nhiên anh thấy buồn rầu như đă đánh mất một vật
ǵ quí mến mà không thể nào t́m lại được.
Anh tưởng tượng ra rằng hai con trâu cuối cùng đó chắc đă có một thời được sống
trong một đàn. Có những ngày thong dong gặm cỏ trên những ngọn đồi xanh. Có
những trưa đằm ḿnh dưới nước trong vùng ‘‘Vũng Trâu Nằm’’ trên vùng Bắc đảo. Có
những đêm nằm kề nhau nhai lại cỏ dưới ánh trăng hay bên ḍng suối. Có những đêm
mưa lạnh nằm chúi vào nhau dưới những tàng cây hay cả những lần chạy thục mạng
v́ bị các tay súng săn rượt đuổi. Hai con trâu đó có thể đă chứng kiến bao nhiêu
cảnh mất dần của một đàn. Thỉnh thoảng, có những người lính gặp chúng đuổi theo
bắn, chúng thường dơ sừng ra đỡ khiến sừng con nào cũng chỉ c̣n trơ một nửa và
lỗ chỗ những vết đạn. Hai con trâu c̣n lại, chắc đă không có nhiều ngày thong
dong trên đồng cỏ, không c̣n những ngày yên ổn nằm bên ḍng suối mà chắc đă có
nhiều ngày lang thang trốn lủi trong các rừng cây.
Bây giờ một con đă bị bắn chết, c̣n một con lủi thủi cô độc, trong một vùng
hoang đảo mênh mông. Anh không muốn tưởng tượng ra thêm nữa về t́nh cảnh của một
con trâu rừng cuối cùng trên đảo. Nhưng như thế cũng đủ làm cho ḷng dạ anh bồn
chồn, lo lắng về số phận của nó. Anh đă nghĩ đó là một h́nh ảnh, một huyền thoại
cuối cùng của ḥn đảo, của một thiên đường đă mất mà anh đang sống, mà anh đang
đi t́m từ ngày đến đảo. Nhưng sao anh thấy cái huyền thoại đó quá mong manh và
không hiểu nó sẽ kết thúc vào lúc nào, và như thế nào. Tuy anh đă cẩn thận dặn
ḍ các người lính và dân trên đảo là không nên săn đuổi con trâu nữa...
*
Có một lúc, anh có cảm tưởng như cả hai bên, lính quốc gia và du kích cộng sản
trên đảo muốn quên hẳn cả cái việc là phải đánh lẫn nhau. Họ cứ lừ lừ, mặc nhiên
chung sống hoà b́nh để yên hưởng cái cảnh tự do mênh mông của biển cả và của núi
rừng. Lâu lắm không nghe thấy một tiếng súng từ trong núi bắn vào các ấp. Cũng
lâu lắm không thấy lính đi mở các cuộc hành quân. Sự yên b́nh đă như đưa ḥn đảo
trở lại một thời hoang sơ nào đó, xa hẳn cái thế giới đầy cảnh hỗn loạn, bất an
bên ngoài.
Nhưng thời gian này đă chẳng kéo dài được bao lâu, khi mà những bản báo cáo hàng
tháng về các hoạt động quân sự gửi về Tiểu khu không có ǵ hấp dẫn. Phía bên kia
chắc cũng vậy, Tỉnh Ủy cũng đă chán đọc những phúc tŕnh trống trơn, chẳng có sự
quấy phá nào cả. Cả hai bên lúc đó chẳng c̣n có thể ngồi yên mà ngắm biển, ngắm
rừng được nưă. Lính quốc gia phải bỏ những ngày lai rai họp nhau ngồi nhậu trong
quán, phải bỏ những buổi ôm con nằm trên vơng, mơ màng hát ầu ơ trong trại gia
binh. C̣n du kích cũng không c̣n dịp ngồi hơ tay trên đống lửa chờ khoai ḿ
nướng chín trong một xó núi nào đó. Tất cả đă bị buộc chặt vào một guồng máy, và
tất cả đều bị cuốn theo không thể cưỡng lại được. Cũng không thể ngưng lại được,
nếu không theo chắc rồi cũng bị nghiến nát.
Bắt đầu dường như bị cấp trên khiển trách ăn không ngồi rồi, cả hai bên đều ṃ
ra làm bộ đánh nhau cho có lệ. Tối nào, mọi người cũng chẳng cần phải đợi lâu để
được nghe mấy loạt súng bắn bâng quơ vào nhau, vọng từ hai bên bờ sông Dương
Đông, ngả ngoài phi trường như báo cho biết họ đă làm xong cái nhiệm vụ cuối
cùng của một ngày và mọi người có thể đi ngủ yên mà không bị ai phá giấc nữa.
Tṛ chơi này h́nh như cũng không qua mặt cấp trên lâu được, hay có lẽ lúc đầu
đánh nhau chơi sau thành đánh nhau thật. Một lần, một viên đạn bâng quơ đâu đó
đă trúng vào đầu và làm thiệt mạng một anh nghĩa quân, đang ngồi ăn bữa cơm tối
do vợ đưa đến đồn canh. Nh́n máu anh chảy loang vào chén cơm đổ trên sàn xi
măng, làm mọi người tức giận. Vài tuần sau, t́nh báo chi khu khám phá được một
cḥi thám thính của Việt Cộng ngay ở sườn núi đầu phi trường, bèn mở cuộc phục
kích, một tên chạy thoát, một tên bị bắt sống. Hôm đó, anh cùng Quận Thanh và
Đại úy Hùng đi ở toán sau, lúc tới nơi được báo cáo tên Việt cộng rất ĺ lợm,
không khai thác được, cố vùng thoát và cuối cùng đă bị bắn hạ. Trên đường trở về
quận, Thạch Sinh, Hạ sĩ thám báo nói với anh:
-Thế nào tụi nó cũng đến lấy xác về, em đă gài bẫy lựu đạn xung quanh và thêm
một quả mở chốt đặt ngay dưới bụng.
Tối hôm đó, anh cùng mấy người ngồi uống la-de với cá khô thiều trên lầu
quận, đợi tiếng nổ từ trong núi vọng ra để chơi nốt cái tṛ chơi của chiến
tranh. Hai bên đă bắt đầu vào một cuộc chơi thật. Hai Cu, Ủy Viên An Ninh cuả
Hội Đồng Xă Dương Đông bị một trái lựu đạn từ đâu liệng vào quán nổ tung, trong
khi cùng ngồi với mấy người bạn uống cà phê. Mấy đêm sau, đang nằm ngủ anh giật
ḿnh tỉnh dậy, nghe giọng Thiếu Úy B́nh từ đồn Hàm Ninh qua máy âm thoại báo cho
biết đồn đang bị tấn công. Mười phút sau, Thiếu Úy B́nh kêu lại, mất b́nh tĩnh,
giọng la hoảng v́ bị hỏa lực của địch quá mạnh, quên mất cả dùng mật mă:
-Đại úy! Đại úy! Tụi nó bắn rát quá, không ra được. Chắc đồn mất đêm nay quá.
Đại Úy, điện xin máy bay ra dội bom yểm trợ hộ. Chắc chết đêm nay mất Đại Úy ơi!
Nghe giọng Thiếu Úy B́nh, anh nhớ đến cái đồn nhỏ
đó, cô lập như miếng mồi ngon, không nơi tiếp cứu, lúc bị đánh rất dễ mất tinh
thần. Hồi lâu, Thiếu Úy B́nh vẫn cố bám vào máy kêu cứu, khiến Đại Úy Hùng nổi
quạu:
-Thế này th́ đánh đấm cái con mẹ ǵ! Ra ngoài mà chỉ huy lính đi chứ, cứ ngồi
đó mà lải nhải th́ đồn mất là cái chắc!
Anh lại nghe Đại úy Hùng quát lớn:
- Đánh bỏ mẹ chúng nó đi, chúng nó đâu có bao nhiêu! Để tôi gọi An Thới đem
chiến hạm đến!
Nói xong, Đại Úy Hùng tắt máy chửi thề:
- Từ ngày ông đi lính đóng đồn có thấy cái máy bay nào nó đến tiếp cứu đâu.
Đă ở đảo mà c̣n ham, sao nó ngu thế!
Rồi ông quay sang liên lạc với Duyên khu 4 An Thới xem có chiến hạm nào gần đó
đến bắn cho mấy vài phát yểm trợ tinh thần. Duyên khu 4 trả lời sẽ liên lạc với
hạm đội. Anh lại nghe thấy Đại.Úy Hùng chửi thề:
- Chờ liên lạc được th́ đồn mất mẹ nó rồi c̣n ǵ!.
Gần sáng, mọi người hồi hộp gọi lại Hàm Ninh, th́ may quá đồn không mất!
*
Áp lực cuả Việt Cộng ngày càng gia tăng phiá đông đảo, khiến quận phải quyết
định rút tiểu đội Địa Phương Quân từ ấp Băi Bổn về Hàm Ninh, nếu không sẽ có
ngày mất cả hai. Mà bỏ trống Băi Bổn tức là mất Băi bổn, mà mất thật!

Sau đó, thỉnh thoảng anh có dịp đi qua vùng biển trên, và lần nào cũng thế anh
dùng viễn kính cố nh́n vào ấp Băi bổn. Vẫn c̣n những hàng dừa xanh chạy dài theo
băi biển nhưng chẳng c̣n một mái nhà nào. Tự nhiên anh nhớ lại, những lần trước,
ngồi bập bềnh trên thuyền, đợi ghe nhỏ trong ấp ra đón, tưởng tượng như có những
trai tráng lực lưỡng ḿnh trần đang sửa soạn đánh những tiếng trống bập bùng và
những cô gái đảo đang sửa soạn những ṿng hoa để quàng vào cổ những khách lạ.
Bây giờ th́ không c̣n tưởng tượng được nữa. Ông già Tám Vân, một thời đóng vai
cướp biển nghiă hiệp và mọi người đă tan tác đi về một phương trời nào rồi. Họ
có muốn ở lại cũng không được nữa, Việt Cộng đă san bằng ấp này rồi, nếu không
th́ cũng bị chiến hạm đi qua thỉnh thoảng nă vào một vài quả trọng pháo như nă
vào các vùng tự do pháo kích.
Mất một ấp, quận phải t́m cách tạo thêm các ấp khác, nhưng lần này không dễ dàng
ǵ như những lần trước. Số dân c̣n lại đều nằm sâu trong đảo, sống dựa vào các
vườn tiêu hay làm rẫy. Nếu lập ấp ngay nơi đó th́ không thể được, mà t́m cách
quy dân th́ thật khó khăn vô cùng. Anh được yêu cầu viết một thông cáo kêu gọi
dân chúng di chuyển về xă Dương Đông. Họ sẽ được giúp đỡ, cấp đất, cây và mái
tôn để làm nhà, gạo cùng thực phẩm trong những tháng đầu. Trong thông cáo cũng
không quên đề cập đến lợi ích cuả việc quy dân về các vấn đề y tế, xă hội, kinh
tế, giáo dục và an ninh ..v..v.. Thông cáo ra đă nhiều lần mà chẳng thấy ai nhúc
nhích. Quận bèn phải dùng cách xua dân. Lần đầu đi bằng đường bộ, đă nhùng nhằng
lại bị du kích bám theo chặn đường. Hôm đó, anh đứng chờ ở ngả phi trường để
chuẩn bị tiếp cư, nhưng được tin họ phải trở về tay không và thám báo cho biết,
may mà chỉ có ‘’một con’’ bị thương. Lần sau, quận cố dùng cách đưa dân ra phiá
biển, gần hơn và có ghe chờ để di chuyển. Lôi thôi thế nào, cũng vẫn bị du kích
tỉa, làm mất luôn ‘’một con’’. Quận đành phải ngưng mọi kế hoạch quy dân.
Mỗi lần có lính chết, anh lại phải nghe hàng tuần dài tiếng gào khóc, kể lể của
người vợ lính từ khu trại gia binh phía sau quận. Nhiều đêm ngủ không nổi. Có
lần anh xuống thăm, thấy tội nghiệp người đàn bà, mắt xưng húp, nh́n thấy anh,
chị ta lại càng vật vă, gào to bên cạnh mấy đứa con nhỏ ḿnh trần lem luốc, ê a
như chẳng biết có chuyện ǵ xảy ra. Nh́n những cảnh đó, anh không thể cầm ḷng
được, nhiều lúc muốn khóc. Nghĩ đến không hiểu tương lai người đàn bà và những
đứa trẻ thơ này rồi sẽ ra sao. Đại Úy Hùng mỗi lần nghe tiếng khóc th́ sốt ruột
chịu không nổi, luôn luôn dục anh:
-Ông t́m hộ một số tiền nào giúp mẹ con nó về quê, chứ ở đây chờ tiền tử tuất
th́ đến bao giờ. Mà nó cứ ngồi khóc như thế này th́ ḷng dạ nào mà lính nó đánh
nhau được!
Mỗi lần có một tên du kích nào bị hạ, nhận diện được có liên hệ với người trong
quận, lính thường cố mang xác về nhà lồng chợ để bà con họ mang về chôn cất,
cũng là luôn thể để cảnh cáo. Chẳng có ai dám lên mhận, để lâu ruồi bâu làm các
tiệm xung quanh phải đóng cửa, nên lính thường phải đến tận nhà áp tải người
liên hệ đến nhận mang về.
* * *
Sau một ít tuần điều nghiên, quận và chi khu đều đồng ư không thể dùng quân sự
được và quyết định dùng biện pháp bao vây kinh tế để quy dân. Biện pháp này cần
phải một thời gian dài, nhưng an toàn hơn. Phú Quốc là một ḥn đảo có nhiều tài
nguyên quan trọng. Lâm sản có gỗ quư, khoáng sản có một vài quặng mỏ. Phiá nam
đảo có vườn cao su đă bị bỏ hoang. Hải sản th́ biển đầy cá và nước mắn nổi tiếng
ai cũng biết. Ngoài ra, hồ tiêu cũng đứng hàng đầu, quan trọng không kém. Anh đă
theo rơi và làm thống kê, một năm Phú Quốc xuất đảo khoảng trên 300 tấn, đứng
đầu toàn quốc, gấp ba lần Bà-rịa, đứng thứ nh́. Anh cũng đă có dịp nếm thử tiêu
cứt chồn và tiêu ngâm dấm để đưa thêm cay khi ngồi nhậu khô thiều hay mực nướng.
Điều lôi thôi nhất là tất cả các vườn tiêu lại nằm trong các vùng hoàn toàn
không kiểm soát được. Bên ngoài th́ Việt cộng tha hồ mà thu thuế. Bên trong th́
mấy chú Ba Tàu nắm hết quyền thu mua, y như cách mua luá non cuả miền Nam. Họ
cho chủ vườn tiêu vay mượn đủ thứ, không những tiền mà c̣n gạo, vải, nhu yếu
phẩm và các dụng cụ làm rẫy. Nhiều khi họ c̣n cố t́nh cho vay thêm để buộc chặt
chủ vườn tiêu vào. Từ năm này qua năm khác gỡ không ra nổi. Họ lời đủ cách, lời
lúc mua tiêu, lúc bán tiêu, lại lời lúc bán các hàng hoá ra.
Sau này, anh điều tra và được biết thêm, chính số vốn khổng lồ được xuất ra từ
Hồng Kông cho Chợ Lớn và Chợ Lớn cho Phú Quốc. Hồ tiêu dĩ nhiên phải chạy ngược
lại theo đường trên. Cách cho vay lại rất dễ dàng, chẳng cần một văn kiện , giấy
tờ, lăn tay hay thị thực chữ kư. Nhiều khi chỉ cần nói vào băng thu thanh làm
bằng, khiến không một Hợp Tác Xă nào cuả chính phủ có thể đứng vững nổi. Các chủ
vườn tiêu nợ một chủ nợ suốt đời. Một vài người cố phá cái ṿng cương tỏa đó, tự
mang tiêu về Saigon bán. Khuân tiêu xuống tàu vào Rạch Giá, khuân ra xe từ Rạch
giá về Saigon. Tiền xe, tiền ăn, tiền trọ kham không nổi. Bán sỉ th́ bị Ba Tàu
d́m giá, mà bán lẻ th́ không biết phải chờ đến bao giờ bán mới hết. Cho nên, tất
cả đều nằm quy phục. Nhưng dầu sao, đời sống của họ cũng vẫn no đủ dễ dàng hơn
những nông dân trồng các hoa mầu khác, khiến cho chẳng mấy ai chịu trồng luá cả.
Thành thử 95% gạo trên đảo đều phải nhập từ Rạch Giá. Quận đă phải áp dụng cách
phân phối gạo theo chế độ khẩu phần. Cách này đă giúp quận kiểm soát được nhiều
vấn đề. Trước hết là vấn đề dân số, nhân khẩu của từng gia đ́nh, những người
muốn đến đảo cư ngụ, dân số trong từng xóm trong các ấp chiến lược và các vùng
không kiểm soát được nếu họ muốn có hộ khẩu. Nhất là không có thừa gạo để nuôi
du kích.

Cách này c̣n giúp cho quận kiểm soát được các nhà buôn gạo tránh cảnh đầu cơ.
Giá gạo luôn luôn được một ủy ban ấn định, nhà buôn không thể tự ư tăng giá một
cách ngang xương. Những ai muốn có môn bài bán gạo, phải ưng thuận một điều kiện
là luôn luôn phải có một số gạo tồn kho ít nhất là một tháng bảo đảm thường trực
được chỉ định, để pḥng ngừa sự thiếu gạo trên đảo. Đă có một lần, biển động gần
hai tháng trời, tầu chở gạo nằm chờ ở An Thới, phiá nam đảo không thể nào vào
được cửa Dương Đông được. Các đường bộ đều bị cắt, nếu di chuyển th́ chỉ làm mồi
cho du kích. Gạo gần hết, cả quận nhao nhao, sắp phải cầu cứu chuyển gạo bằng
đường hàng không th́ biển yên lại.
Lợi dụng các yếu tố trên, kế hoạch bao vây kinh tế đă được nghiên cứu và đem ra
tiến hành. Kế hoạch lại phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trên đảo, nhất là
với các lực lượng hải quân và hải thuyền tuần pḥng duyên hải. Nhiều vùng biển
bị phong tỏa, ghe thuyền chỉ được cặp tại những bến đă được chỉ định, nếu trái
lệnh có thể bị bắn ch́m. Các cửa ấp chiến lược được kiểm soát nghiêm ngặt, ai đi
ra ngoài ấp làm rẫy chỉ được mang theo đủ phần ăn trong ngày, không thể thừa
dành cho người khác. Thực hiện kế hoạch này phải kiên nhẫn, hiệu quả chỉ đem lại
sau ít nhất là trong ṿng sáu tháng đến một năm.
* * *
Thời gian anh ở đảo có lẽ cũng khá lâu, bạn bè thường ngạc nhiên không thấy anh
nhúc nhích xin đổi về đất liền. Có lẽ anh đă tạo cho anh huyền thoại của ḥn
đảo, và chính huyền thoại này đă giữ anh lại. Thật ra, anh nghĩ nếu cố xin được
thuyên chuyển mà lại phải về các quận khác th́ ở lại c̣n hơn, mà về tỉnh th́ anh
lại chán ngấy cái cảnh thư lại, nhàm chán . . . Sau này, anh nhận làm Trung Gian
Ngân Khố nên hàng tháng lại có dịp trở về đất liền để lănh tiền ra chi cho các
ngân phiếu trên đảo. Có khi thay v́ vào Rạch Gía, anh lại t́m cớ về lănh tiền
thẳng tại Ngân Khố Saigon. Nhiều người cũng mượn dịp xin đi cùng hộ tống, súng
ống lỉnh kỉnh để tránh du đăng cướp giật. Nhiều khi không muốn đi mà vẫn cứ phải
đi, v́ mỗi lần đi như thế bao nhiêu tiền lương trong túi, anh cùng bạn tiêu hết
sạch trước khi quay về đảo.
Lần nào ra máy bay về đất liền, anh cũng gần như phải đi trốn con chó Tino của
anh. Nó là giống chó Phú Quốc, lông đen sát vào ḿnh, có một đường xoáy chạy dài
dọc sống lưng, rất khôn và săn rất giỏi. Nghe nói chó Phú Quốc đă được ghi trong
một cuốn tự điển quốc tế.
Khi anh rời ra trụ sở quận mới, một người dân đem con chó đó cho anh, v́ ở đó
canh gác quá sơ sài. Việt Cộng có thể đột kích từ ngă biển lên bất cứ lúc nào v́
không có đồn canh ở phía đó. Sau này anh c̣n nuôi thêm một bầy ngỗng, hơn chục
con mua từ Rạch Gía về. Ngỗng rất thính, thấy động là la quàng quạc, và thường
hay tấn công người lạ. Cỏ trong quận không đủ, thường phải mua thêm lúa cho
ngỗng ăn. Lúa th́ không có nhiều, lúc đắt mua không nổi, nên thư kư trong quận
cứ dụ ăn dần mỗi khi thèm thịt, thiếu mồi. Sau khi anh rời đảo, quận bị xâm nhập
từ ngả đó hai lần, có lần một quận trưởng bị tử thương.
Con Tino lúc nào cũng theo sát anh, anh ngồi ở đâu, nó nằm ngay dưới chân anh.
Khi anh ngủ, nó nằm sát cạnh giường, không lúc nào rời. Lần nào ra quán ăn hủ
tíu, Cù Đe cũng cho nó một tô xương với bạc nhạc đày ụ. Ai mà lạ, đi đứng lấm
lét là nó gầm gừ xua ra xa. Dân đến quận không đi bằng cửa chính, cứ thập tḥ ở
cửa, nó đuổi cho kỳ được ra khỏi quận, nếu không có ai la cản. Mỗi lần Cha Cung
từ An Thới lên, áo linh mục ḷe x̣e, đến thăm quận là thư kư cứ phải canh chừng
v́ sợ nó cắn rách áo của cha. Nhiều lần, anh đă lên ngồi ở máy bay chờ cất cánh,
không hiểu con Tino t́m cách nào nhẩy lọt được lên, khiến mấy cô chiêu đăi hàng
không la oai oái. Cô Mai lúc nào cũng làm vẻ xa cách và thường chê đường bay này
là Air Nước Mắm. Chắc đă có lần cô gặp phải tai nạn nước mắm bị bể trong chuyến
bay. Riêng cô Thoại th́ vui vẻ, dễ chuyện tṛ, thông cảm cho những dân ra làm
việc trên đảo. Anh lại phải đi xuống để nó theo, và anh thường là người lên sau
chót hết. Những ngày vắng anh, nó chạy sục sạo đi t́m những nơi mà anh thường
đến. Lúc nó chạy ngang qua quán Cù Đe, ông ta đem tô xương ra, nhưng nó chẳng
thèm ăn và bỏ chạy đi. Khi anh di chuyển vào Rạch Gía, anh đem nó theo. Một lần
về Saigon công tác, Thiếu Úy Mạo trông dùm và đem nó đi theo hành quân, con Tino
của anh đă bị lạc mất. Anh trở lại tỉnh, không có nó, buồn thẫn thờ mất bao
nhiêu tháng trời...
* * *
Saigon lúc đó rối mù chính trị. Hàng ngày các sư và phật tử xuống đường liên
miên chống lại chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Đi đâu cũng thấy dây kẽm gai chắn đường và
Cảnh Sát Dă Chiến rằn ri lúc nào cũng lăm le bắn lựu đạn cay vào đám đông. Bạn
bè anh ở Saigon cũng chẳng c̣n lại mấy người, phần đông đă phải nhập ngũ. Một
hôm, ngồi một ḿnh tại quán Givral, một người bạn đi ngang qua, kéo anh đến tham
dự một buổi họp. Địa điểm có tính cách kín, v́ sợ mật vụ và công an ŕnh rập.
Đến đó, đă thấy một số đông sinh viên và học sinh, và một lănh tụ của họ đang
hùng hồn đả kích chính phủ, phản đối các cuộc bắt bớ giam cầm trái phép, và đ̣i
hỏi phải thực thi các quyền tự do căn bản. Người bạn nh́n anh có ư hỏi xem có ư
kiến ǵ không. Anh nh́n lại người bạn bỗng nhớ ngay đến những ngày mới di cư từ
Bắc vào Nam, chính anh ta và anh đă theo các đàn anh hội họp ngày đêm bàn truyện
truất phế Bảo Đại, suy tôn Ngô Đ́nh Diệm, đuổi thực dân Pháp về nước. Sau đó lại
hùa nhau đi phá khách sạn Majestic và Trần Hưng Đạo đuổi phái đoàn hiệp thương
về Bắc. Nay anh ta lại dẫn các đàn em lao vào một cuộc tranh đău khác.
Sau buổi họp, anh không có dịp nói một lời nào với bạn. Hai người chia tay nhau,
bạn anh ở lại trong cảnh rối mù của thời cuộc, c̣n anh về lại một nơi xung quanh
chỉ thấy dân quê nghèo nàn, và Quốc Cộng vẫn thù nghịch, ngày ngày vẫn giết hại
lẫn nhau. Anh mong bạn t́m ra lối thoát. Anh trở lại đảo, sống lại cuộc đời tự
do, phóng khoáng của biển cả và của núi rừng. Vẫn c̣n có những buổi chiều thả bộ
dọc theo băi biển từ Dinh Cậu xuống khách sạn Sơn Hải, ngắm hoàng hôn và nh́n
mặt trời tṛn đỏ ửng lặn dần xuống biển. Thỉnh thoảng, Đại Úy Minh, Hạm Trưởng
là anh em với một ông Bác Sĩ đối lập chống chính phủ, sau những chuyến hải hành,
thường hay neo tàu ở Dương Đông lên thăm quận. Anh ta thường chiếm giường của
anh, và thừ người nằm đọc mấy quyển truyện tiếng Pháp loại bỏ túi mà anh để đầu
giường. Đôi lúc, Đại Úy Minh thổ lộ cho biết :’’ Ông Diệm cho an ninh theo
rơi moa sát nút, chỉ sợ moa mang tàu sang Cam Bốt’’.
Chẳng bao lâu, hai anh em Tổng Thống Diệm bị thảm sát, chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa
sụp đổ, chính phủ quân nhân lên cầm quyền. Đại Úy Thanh, Quận Trưởng bị gọi ra
phi trường, triệu hồi tức tốc về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, không kịp về quận bàn giao
lại mọi việc, v́ có liên hệ họ hàng với Tổng Thống Diệm. Một vài vị nhân hào
thân sĩ có quen biết với tướng Minh, Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng vội
chạy lên quận yêu cầu tập họp mít tinh và gửi kiến nghị gấp về Saigon triệt để
ủng hộ cách mạng. Đang mít tinh, ḥ hét ủng hộ, đả đảo th́ Trung Úy Vơ, Phó
Duyên Khu 4 từ căn cứ An Thới lên báo cho anh biết trung đội nghĩa quân trả lại
vơ khí, không pḥng thủ nữa, và năn nỉ anh xuống nói với họ cầm súng trở lại.
Căn cứ Duyên Khu 4 chỉ huy các lực lượng Hải Thuyền từ sông Ông Đốc, Cà Mâu trải
dài đến vịnh Thái Lan. Căn cứ không có một lực lượng diện địa pḥng thủ, ṿng
ngoài chỉ trông cậy vào trung đội nghĩa quân nói trên. Họ đều là người Công
Giáo, Ba Làng vượt biển vào Nam năm 1954, chống Cộng có hạng. Sau buổi mít tinh,
anh cùng Trung Úy Vơ xuống ghe chủ lực vượt sóng đi An Thới. Đến nơi, xin vào
gặp cha Cung, quản nhiệm địa phận. Chắc cũng dễ hiểu, chẳng cần phải dùng tài
thuyết phục, cha cũng thừa biết v́ ông Diệm mà bỏ súng nếu Việt Cộng nó đánh th́
chết cả đám. Dân An Thới, Công Giáo Ba Làng chỉ cần dằn mặt quân đội đă giết vị
lănh đạo của họ.
* * *
Mấy tháng trời, đảo không có quận trưởng. Ở Saigon th́ các tướng lănh không
thuận nhau, chỉnh lư cứ xảy ra hoài hoài. Nhân hào thân sĩ cũng theo cái nhịp
đó, chạy lên quận điện kiến nghị về ủng hộ tướng lănh mới lên nắm quyền. Có lần,
Trưởng Chi Thông Tin hấp tấp chạy lên quận báo tin, tướng Vùng 4 chống lại
Saigon, đang dùng đài Ba Xuyên bài bác chính phủ, mà quận th́ mỗi chiều đều trực
tiếp truyền thanh đài này cho dân chúng nghe. Ông ta hỏi nên xử trí ra sao,
không biết theo bên nào và chống bên nào. Anh liền bảo ông ta loan báo v́ lư do
trục trặc kỹ thuật, nên chương tŕnh phát thanh phải ngưng lại trong phút chốc.
Nhưng rồi cũng phải hai ba hôm, nghe ngóng t́nh h́nh tạm yên mới cho phát thanh
trở lại.
Ít lâu sau, Thiếu Tá Châu, bên Hải Quân được cử ra làm quận trưởng. Ông ta rất
ghét cờ bạc và thích chơi tṛ trị dân như ngày trước quan huyện phạt đám dân
đen. Cứ mỗi Thứ Ba, mở sổ số là ông cho lính đi ŕnh bắt bọn đánh số đuôi. Chỉ
cần tóm được cuốn sổ là bao nhiêu tên người chơi đều nằm trong đó, lính chỉ cần
đến tóm giải lên quận. Mọi lần th́ anh chỉ bắt họ làm cỏ vê trên các con đường
trong quận, nhưng Thiếu Tá Châu th́ lại bắt mỗi người nằm úp trên ghế dài, lấy
roi mây dang tay ra quất mỗi người mười roi. Nhiều chị mặc quần mỏng bị roi quắn
mông, khóc như cha chết. Nhưng dân vẫn không chừa, Thứ Ba nào từng đám vẫn bị
giải lên quận. Đánh măi, nhiều khi mỏi cả tay, găy cả roi, nên ông phải dự trữ
từng bó roi mây trong quận. Nhiều lần, ông ta đưa roi bảo anh thay ông ra tay,
nhưng anh từ chối. Ông sai lính, th́ họ đánh nương tay, ông không chịu. Có những
con bạc có kinh nghiệm, thường mặc quần có hai túi sau và để hai chiếc bóp dày
cộm sau mông, nhưng chỉ vài lần là Thiếu Tá Châu biết ư, bắt moi bóp ra trước
khi nằm xuống ghế. Một hôm, Thiếu Tá Châu vào pḥng đưa cho anh tờ báo, miệng
chửi thề bảo anh đọc và nhờ t́m cách trả lời. Anh cầm tờ báo xem, ông ta không
bị dân thưa v́ tội dùng roi đánh dân mà lại bị thưa về tội bỏ dân đói, do kế
hoạch bao vây kinh tế được thực hiện trước ngày ông đến đảo nhận chức. Anh c̣n
nhớ bài báo đó được đăng trong mục đóng khung Quan Điểm của một tờ nhật báo do
hai nhà cách mạng lăo thành Nam và Bắc, là cụ Bạch văn Mùi và cụ Nguyễn thế
Truyền chủ trương. Cụ Truyền c̣n nổi tiếng thêm v́ có vợ là công chúa người Bỉ.
Đối với các bậc trưởng thượng như thế, anh chỉ c̣n biết kính trọng. Anh bàn với
Thiếu tá Châu là anh sẽ viết một lá thư mời hai cụ ra chơi đảo, nghiên cứu t́nh
h́nh và dậy bảo cho kẻ hậu sinh nên làm những ǵ, v́ hai cụ chắc có nhiều kinh
nghiệm với Cộng Sản. Thư gửi đi đă lâu mà không thấy hồi âm ǵ. Thiếu Tá Châu
cười và nói với anh, chắc hai cụ sợ bọn con cháu chơi xỏ, khi hai cụ ra đây lại
xúi dân vệ bắn sẻ trêu chọc.
Sau này, ba người Đại Úy Minh, Đại Úy Thanh và Thiếu Tá Châu đều trở thành Đề
Đốc giữ những chức vụ quan trọng trong Hải Quân.
Anh lại nghĩ đến, trong chiến tranh, Cộng Sản lấy nông thôn làm bàn đạp, cấp
quận được coi như một tuyến đầu sống c̣n của người Quốc Gia. Những cán bộ hành
chánh trẻ, được huấn luyện cấp Đại Học và đưa về mong làm thay đổi một phần nào
bộ mặt của nông thôn, và củng cố chính nghĩa. Hành trang chữ nghĩa họ đem theo
hầu hết là những lư thuyết cao siêu từ các giảng đường đại học, những tư tưởng
quốc tế xa vời được những giáo sư khoa bảng truyền thụ mà hầu hết các bậc thầy
này cũng như các bậc cách mạng lăo thành Quốc Gia đă không có những kinh nghiệm
sống hay những thời gian đặc biệt nghiên cứu về nông thôn. Sinh viên mới ra
trường đă phải tự ḿnh lần ṃ học hỏi những điều xẩy ra hàng ngày, và điều chỉnh
giữa lư thuyết và hoàn cảnh thực tế. Khi tạm đủ lông cánh, th́ họ lại t́m cách
bay đi t́m những phương trời an lạc hơn, để lại nông thôn cho những đàn em tay
mơ mới ra ràng loay hoay như những ngày mà các khóa đàn anh mới đến.
Có một lần, anh từ quận trở về Saigon công tác, và có dịp thăm lại trường cũ.
Lúc anh ra trường, Giáo sư Vũ Quốc Thông là Viện Trưởng, nay là Giáo sư Nguyễn
Văn Bông thay thế. Một sự t́nh cờ anh gặp Giáo sư Bông tại hành lang và ngẫu
nhiên anh ngỏ ư muốn thưa một vài câu chuyện của một sinh viên mới ra trường làm
việc ở cấp quận. Giáo sư vui vẻ dẫn anh trở lại văn pḥng để nghe chuyện. Câu
chuyện của anh là những mối quan tâm kể trên. Giáo sư im lặng ngồi nghe, không
nói. Trước khi từ biệt để về quận, Giáo sư đưa tay ra bắt, anh nh́n cặp kính
trắng dày cộm và trên vầng trán hiện rơ ràng đầy nét ưu tư. Anh chắc rằng Giáo
sư cũng đă được nghe những lời tŕnh bày như của anh nhiều lần. Ít lâu sau, anh
vẫn c̣n ở quận, nghe được tin Giáo sư bị ám sát chết...
* * *
Phú Quốc như là một địa điểm du lịch lạ, các tướng lănh và chức sắc chính quyền
trung ương hay ghé qua dù chỉ trong chốc lát. Cứ mỗi lần như thế, nhân viên
quận, rất hiếu khách, theo một thông lệ đă có từ lâu, thường đem nước mắm và cá
khô thiều ra tận sân bay để tặng cả phái đoàn.
Tổng
Thống Diệm và tùy tùng có ra thăm một lần. Tướng Thiệu, khi chỉ huy Vùng 4 và bà
vợ cũng có ghé thăm. Sau đó, Tướng Dương văn Đức có lần ra ḥ hét quận bắt lính,
náo loạn cả đảo, khiến bao nhiêu gia đ́nh gặp cảnh ly tan. Một lần, một chiếc
máy bay nhỏ từ đâu đến lượn mấy ṿng trên văn pḥng quận báo hiệu, và sau đó hạ
cánh xuống phi trường Dương Đông. Quận phải hộc tốc mang xe ra đón, th́ ra là
phái đoàn Tướng Westmoreland đến mà không báo trước. Sau khi nghe thuyết tŕnh
xong, phái đoàn trở lại sân bay, anh đă thấy mấy người thư kư quận đă sẵn sàng
đứng cạnh máy bay, với mấy chai nước mắm để tặng. Thấy anh ngần ngại, th́ một sĩ
quan tùy tùng nói ngay:’’Ô, Whisky Việt Nam, chúng tôi thích lắm!’’. Tướng
Westmoreland cười, cám ơn và giơ tay bắt tay mọi người. Lúc đứng nh́n chiếc máy
bay mất hút sau dặng núi, anh mới nhớ ra, có một vài cố vấn Mỹ đến đảo, thấy các
chai nước mắm nhĩ vuông, óng ánh như mấy chai wisky mèo đen, ngửi lại thấy thơm
một cách đặc biệt, đă khiến họ nếm một cách say sưa.
Lúc đó đến lượt Tướng Khánh lên cầm quyền, ông nảy ra ư kiến biến Phú Quốc thành
một trung tâm du lịch, giải trí cho lính Mỹ khi đi phép, để thâu thêm ngoại tệ,
thay v́ họ mang đô la đi tiêu xài ở Hồng Kông hay Thái Lan... Điều đầu tiên là
phải nâng Phú Quốc lên hàng tỉnh, để có đủ cơ sở và nhân sự điều hành các chương
tŕnh. Anh được chỉ thị lập một dự án sơ khởi thành lập Tỉnh Phú Quốc. Trên đảo
đă có gần đầy đủ các cơ sở hành chánh và chuyên môn, mà một số ở cấp ty, trực
thuộc thẳng trung ương như một số tỉnh nhỏ vùng cao nguyên, v́ thế chi phí phát
triển không đến nỗi tốn kém lắm.
Đây là một dịp đầu óc anh bay bổng, nghĩ lại ngày nào t́m lại được thiên đường
đă mất. Anh tưởng tượng ra một con đường ṿng ven đảo, qua những băi biển nhỏ mà
bao lâu không có dấu chân người. Một cái đê ngoài cửa biển ngăn sóng để các tàu
thuyền ra vào rạch Dương Đông cho dễ dàng, và cũng là chỗ để các du thuyền và
nơi trượt nước cho du khách. Quận cần có một họa đồ thiết kế thành một thành phố
du lịch , ít nhất cũng phải có tính cách quốc tế. Những rừng san hô phía nam đảo
cần được bảo vệ cho những khách muốn thám hiểm vùng biển nhiệt đới. Cần có cả
các du thuyền cho du khách đi câu và các chuyên viên hướng dẫn môn săn cá dưới
biển. Anh chắc rằng Tướng Khánh cũng đă lôi cuốn được một số tư bản đầu tư đủ để
phát triển hạ tầng cơ sở, xây cất các khách sạn, các trung tâm giải trí và thực
hiện một sân golf, môn thể thao mà người Mỹ ưa thích. Tướng Khánh cũng thể nào
quên được vấn đề b́nh định ḥn đảo. An ninh phải là một trăm phần trăm, nếu
không chỉ một sớm một chiều, tất cả công tŕnh sẽ thành mây khói hết. Ông dự
định đưa mấy ngàn dân Nùng chống Cộng ra định cư. Họ sẽ được cung cấp tất cả
phương tiện về đời sống trong mấy năm đằu, và một số sẽ được tuyển mộ thành lập
những đơn vị để lùng diệt du kích địa phương.
Chẳng bao lâu, anh nhận được công điện chuẩn bị đón tiếp và lập một chương tŕnh
thăm viếng theo lời yêu cầu của các lănh tụ Nùng. Anh nhường cho họ căn pḥng,
và tối nào cũng ngửi thấy mùi thuốc phiện thơm lừng văn pḥng quận. Họ mang theo
một số súng lạ, và bảo anh muốn lấy khẩu nào tùy ư. Anh chọn một khẩu súng sáu
ngắn ṇng có thể dấu kín trong người. Hôm sau, anh đưa họ đi ṿng đảo để quan
sát bằng tầu tuần pḥng của quan thuế. Nếu không ghé đâu, cũng phải mất một ngày
mới trở về quận được. Hồi đó, anh thỉnh thoảng nghe đài Nam Vang, ông Hoàng
Shianouk cứ mỗi Thứ Bảy thường trực tiếp nói chuyện truyền thanh, lúc bằng tiếng
Miên, lúc bằng tiếng Pháp, lúc lại bằng tiếng Anh. Nhiều lúc ông gay gắt lên án
Việt Nam xâm lăng, to tiếng đ̣i lại đảo Phú Quốc và dọa sẽ tấn công bằng mọi lực
lượng, v́ thế anh rất e ngại mỗi lần phải đi ṿng lên phiá Bắc đảo, len giữa eo
biển nhỏ gần kề với đất Miên, hải quân Cam Bốt có thể áp đảo kéo tàu về lấy cớ
là vi phạm hải phận.
* * *
Sau khi tiễn họ về, anh lại phải sang Hàm Ninh, phía Đông đảo để giúp Hội Đồng
Xă tổ chức lại một số vấn đề hành chánh, tài chánh và nhất là định lại thuế má.
Xă quá nhỏ, hành thâu rất là khó khăn, thành thử chỉ đủ trả lương cho một ḿnh
xă trưởng. Ông ta là một ông già, có chút chữ nghĩa, tính toán, hàng ngày lại
phải kiêm luôn chức giáo làng dậy một đám trẻ nhỏ. Giáo viên cử đến tháng trước
th́ tháng sau lấy cớ đau ốm về đất liền rồi ở luôn không thấy ra nữa. Nếu tăng
thuế để đủ chi phí điều hành xă th́ chắc dân sẽ bỏ đi hết, chỉ c̣n le que ít
lính trong đồn, rồi chẳng bao lâu đồn sẽ bị triệt hạ v́ lư do này hay lư do
khác, và quận sẽ mất thêm một xă nữa. Thành thử, mọi chuyện cứ để lê lết như
thường lệ.
Không c̣n chuyện ǵ làm, anh gọi về quận để cho thuyền đến đón, th́ trời nổi
gió, mây đen ngùn ngụt phủ đầy trời. Biển động sẫm lại và sóng đánh vào máy
chiếc ghe cắm ngoài xa, dập vùi như muốn nhận ch́m xuống biển. Anh nghĩ ít nhất
cũng phải một tuần nữa mới có thể trở về quận được. Mấy quyển sách anh đem theo
cũng vừa đọc hết, anh lang thang đi từng nhà, nói chuyện với các ông già bà cả.
Họ kể lại những chuyện nghe như chuyện ngày xưa tự thuở bán khai. Nói chuyện với
các trẻ thơ, thấy chúng vô tội, và thấy thương vô vàn khi nghĩ đến tương lai của
chúng. Có lúc, anh trầm ngâm ngồi nh́n và nghe chuyện giữa một cô gái đảo đương
th́ và một anh lính trẻ trong đồn, anh chưa tưởng tượng được giấc mơ của họ như
thế nào ở chốn tận cùng của trời đất này.
Một buổi trưa, anh đang nằm lơ mơ trên vơng sau nhà của một người thợ săn, anh
bỗng choàng dậy v́ thấy một cái ǵ ẩn hiện trên đống cát gần hàng rào thưa. Anh
vội chạy đến, lấy tay gạt cát và khênh lên một cái sọ trâu trắng hếu với hai cặp
sừng cùn sơ mà cái nào cũng chỉ c̣n một nửa. Anh lệ khệ bưng vào nhà hỏi chuyện.
Họ cho biết, hơn tháng trước Thiếu Úy B́nh cùng mấy người trong ấp đi săn, đột
nhiên gặp con trâu rừng này. Lúc nó trông thấy Thiếu Úy B́nh, th́ chỉ c̣n cách
xa vào khoảng ba chục thước, nó đứng yên, hai chân cào đất lấy thế tấn công. Mọi
người thấy thế dăn ra, chỉ c̣n Thiếu Úy B́nh quỳ xuống sẵn sàng nạp đạn. Sau một
lúc nghênh nhau, con trâu rừng bỗng lao về phía Thiếu Úy B́nh, mấy viên đạn nổ
kịp, theo đà con trâu ngă gục trước mặt Thiếu Úy B́nh... Anh không c̣n muốn nghe
thấy ǵ nữa, vội chạy lên đồn sinh sự với Thiếu Úy B́nh, th́ lính trong đồn cho
biết, Thiếu Úy B́nh đi săn bị ngă từ trên cây xuống, gẫy xương sống, đă phải đưa
vào bệnh viện tỉnh mấy tuần trước rồi.
Anh thẫn thờ đi ra khỏi đồn, tưởng tượng đến phút cuối cùng của con trâu rừng
trên đảo đă gục ngă. Tưởng tượng đến cả đám trâu rừng của bà Kim Giao đem ra hai
trăm năm trước nay không c̣n nữa. Tưởng tượng đến cái dấu vết cuối cùng của một
thiên đường hoang tưởng đă mất mà anh đang t́m, như bỗng chốc không bao giờ c̣n
t́m thấy lại. Anh trở về nh́n lại cái sọ trâu với cặp sừng, lấy tay phủi hết cát
trong cặp mắt sâu hoắm, tưởng như bao nhiêu huyền thoại vẫn c̣n chứa chất trong
đó. Anh thấy đoàn thuyền của Nguyễn Huệ đang lùng đuổi Nguyễn Ánh, thấy con cá
voi đang cố sức đỡ thuyền cho Nguyễn Ánh khỏi bị lật trong cơn giông băo, thấy
một đàn cá lạ đến dâng ḿnh cho Nguyễn Ánh trong cơn đói lả. Thấy h́nh ảnh của
nhà truyền giáo từ một xứ xa lạ nào đó đang nằm thở những hơi cuối cùng trong
ngôi giáo đường ven biển, chờ chúa đến đón. Thấy Nguyễn Trung Trực đang treo đứa
con nhỏ của ḿnh trên nhành cây cho dân trong trong ấp nuôi để cố thoát khỏi
cuộc vây bắt của giặc Pháp. Thấy cả đám tù binh gầy guộc đang lê lết san bằng
đất làm phi trường Cửa Cạn trong Thế Chiến Thứ Hai, thấy lại từng đoàn máy bay
Nhật lên xuống bụi mù cả một vùng, thấy đám lính Nhật bắn súng vang trời ăn mừng
khi Tân Gia Ba thất thủ. Thấy lại cả đám tàn quân Quốc Dân Đảng bị Hồng Quân Mao
Trạch Đông tràn qua sông Dương Tử xua ra khỏi Trung Hoa đang ḿnh trần chặt cây
dựng lều tạm trú trên đảo. Thấy h́nh ảnh nghĩa trang của những Quốc Quân bỏ ḿnh
trên đảo mà mắt vẫn trông về cố quốc...
Anh lại thấy h́nh ảnh thư sinh mới ra trường của ḿnh, một ḿnh tay xách chiếc
va-li đến đảo, tưởng như đang sống lại một phần đời của Gaugin đang đi t́m lại
một thiên đường lỡ dở trong các họa phẩm vẽ cảnh rừng dừa ven biển, với các
chàng trai lực đang đánh những tiếng trống bập bùng, với những cô gái ḿnh trần
đa t́nh đang cầm ṿng hoa đón khách lạ. Thấy lại h́nh ảnh lang thang của ḿnh
như một Gary Cooper sau những ngày phiêu bạt trở lại đảo như trong phim ‘’Retour
au paradis’’. Thấy lại h́nh ảnh của ḿnh ngồi trên mũi thuyền những ngày rong
ruổi trên biển, nghe sóng vỗ và nh́n vào dọc đảo xanh để đến những ấp lạ như
sống trong phim của thời ‘’Bảy chàng hiệp sĩ Nhật’’...
*
Mấy hôm sau, biển lặng, anh về tới quận. Trong đống thư từ ứ đọng từ hai tuần
trước, anh nhận được giấy thuyên chuyển về tỉnh. Người thay thế anh là người
khóa dưới, đang ṭng sự tại Bộ Nội Vụ. Nhân viên trong quận đến phàn nàn với
anh, họ cứ ngỡ anh sẽ ở lại làm xong dự án thành lập tỉnh. Anh thu xếp chờ bàn
giao, nhưng chờ măi không thấy người đồng môn ra thay. Lúc đó, Tỉnh trưởng là
Thiếu Tá Thụy, gọi cho anh và bảo có mấy chức vụ c̣n trống trong tỉnh, anh muốn
chọn chức nào tùy ư. Ông cũng khuyên anh nên về dần, nếu ở măi chỗ tận cùng đó
người ta sẽ dễ quên. Riêng anh, anh thấy chẳng c̣n cớ ǵ có thể giữ anh ở lại
đảo nữa.
Vừa về tỉnh không được bao lâu, anh lại được Tỉnh Trưởng gọi đến nhờ ra đảo tổ
chức tiếp đăi phái đoàn tướng Khánh. Hôm ông đến có hai máy bay, tùy tùng khá
đông, có thêm tướng Công Binh, bên dân sự có Thủ Tướng Viên và một hai Thứ
Trưởng. Sau khi hội họp tại quận, duyệt xét kế hoạch lập tỉnh lần chót, phái
đoàn dân sự đi thị sát các cơ sở hiện hữu, sau đó sẽ ra máy bay về Saigon. Riêng
phái đoàn các tướng lănh ra chiến hạm xuống đảo Ḥn Thơm để quan sát phía nam
đảo. Anh được chỉ thị tháp tùng họ. Lúc đứng trên boong tàu, nh́n lá cờ vàng ba
sọc và lá cờ tướng ba sao trên đỉnh chiến hạm, nền trời xanh, mây trắng lững lờ
trôi, mặt biển lặng, nước trong và gió chỉ hây hây, anh thấy một ngày quá đẹp.
Anh nh́n vào đảo, tưởng tượng đến một ngày nào ḥn đảo sẽ sống như giấc mơ mà
ḿnh đă mơ.
Khi đến Ḥn Thơm, hai ghe chủ lực đă chờ sẵn sàng ở đó để đưa mọi người vào đảo.
Anh đă đến Ḥn Thơm vài lần, trên đảo cây cối xanh tươi, những băi biển nhỏ cát
vàng lóng lánh,
những ghềnh đá sóng vỗ tung bọt trắng, đêm trăng ở đó thật là
huyền ảo. Ven biển là những rừng san hô, cá nhiệt đới đủ màu lập lờ bơi dưới
nước. Lúc mọi người đang dùng bữa trưa, th́ một tin khẩn cấp từ chiến hạm báo
cáo qua máy truyền tin là Việt Cộng dùng súng cối 81 pháo vào phi trường, định
phá máy bay và tấn công vào phái đoàn dân sự đang chờ tại trạm hàng không. Tướng
Khánh yêu cầu mọi người trở lại ngay chiến hạm và ra lệnh tàu quay về Dương
Đông. Khi chiến hạm vừa nằm trên đường ngang với phi trường, hàng loạt trọng
pháo được phóng ra nă vào sâu trong đảo. Tiếng nổ vang vọng lại, một vài cột
khói bốc cao, anh có cảm tưởng hào hứng như đang đứng trước giờ đổ bộ trong cuộc
Thế Chiến Thứ Hai. Báo cáo của lực lượng địa phương cho biết, đă đẩy được Việt
Cộng ra ngoài hàng rào phi trường, máy bay bị một số đạn nhỏ, không biết hư hỏng
ra sao. Phía ta, hai Địa Phương Quân bị thương nhẹ và một nghĩa Quân bị thương
nặng.
Anh cùng với một bác sĩ quân y xuống ghe ra đón vào đảo để săn sóc mấy binh sĩ
bị thương. Sau khi băng bó và cho thuốc xong, ông ta liên lạc với Tướng Khánh,
cho biết cần phải di chuyển nghĩa quân về bệnh viện tỉnh gấp để giải phẫu gấp,
nếu chậm sẽ không qua khỏi đêm nay. Trời tối dần, tiếng súng đă ngưng, nhưng
t́nh h́nh vẫn c̣n căng thẳng, hồi hộp. Vị bác sĩ phải trở lại chiến hạm và đưa
cho anh chiếc máy truyền tin nhỏ để liên lạc. Anh tiễn ông ta ra ghe rồi trở về
bệnh xá thăm lại mấy binh sĩ bị thương. Bà mẹ anh nghĩa quân vừa thấy anh, ôm
choàng lấy anh khóc nức nở, van nài cố cứu sống đứa con. Anh không biết làm ǵ
hơn, cố đứng yên lấy tay vỗ về bà ta an ủi để cơn đau đớn nguôi dần. Chợt có tín
hiệu từ máy truyền tin, anh liền mở máy, từ chiến hạm báo cho anh chuẩn bị băi
đáp cho trực thăng tải thương. Anh lại nghe vọng qua máy, tiếng tướng Khánh gọi
về Cần Thơ, ‘’Mặt Trời đây, Mặt Trời đây! Cho chuồn chuồn ra đón mấy đứa con tôi
bị thương về tỉnh ngay!’’ Anh liền bảo mọi người đem đến một số đèn để làm dấu
cho băi đáp. Nghĩ đến tướng Khánh, lo cho mấy đứa con của ḿnh, ra lệnh bất chấp
các điều kiện mà thấy thương ông. Trời tối mà biển th́ rộng, đến bố chuồn chuồn
cũng không dám ṃ ra. Quá nửa đêm, anh nghe tiếng khóc gào lên từ trong bệnh xá,
lại một thằng con của ông vừa hi sinh...
Đêm đó, anh ngồi ở sân trước bệnh xá, không ngủ, nh́n lên trời máy bay thả hỏa
châu liên tiếp sáng rực để bảo vệ hai chiếc máy bay c̣n lại ở phi trường. Anh
được biết Tướng Kỳ cũng có mặt trong những chuyến bay đó để liên lạc với Tướng
Khánh phía dưới. Sáng sớm hôm sau, một đại đội Dù được thả xuống truy lùng Việt
Cộng, nhưng chúng đă trốn lủi vào một xó xỉnh nào đó từ lâu rồi. Anh chợt nhớ
đến ít lâu nay, t́nh báo cho biết Việt Cộng trên đảo có súng cối 81, nhưng thám
báo cố t́m mà không ra. Chúng đă dùng đúng lúc, dù không nhằm được đúng mục
tiêu, nhưng đă làm dự án của Tướng Khánh cho ḥn đảo tiêu tan...
* * *
Sau đó, anh về tỉnh Rạch Giá làm việc, rồi bỗng nhiên bị một trận sốt rét kéo
dài mấy tháng trời. Chữa tại bệnh viện không xong, anh về Saigon và muốn ở lại
luôn. Bác sĩ Tây ở Saint Paul chữa dai dẳng không hết, cuối cùng một người bạn
thân đang học y khoa năm cuối, mát tay giúp anh khỏi bệnh.
Anh trở lại tỉnh, và làm một quyết định quan trọng nhất trong đời, là lập gia
đ́nh với người yêu. Nàng đang học ở Saigon, những ngày nghỉ hai người thường
cùng nhau ngồi xe dọc quốc lộ 4, qua những đồng luá xanh rờn mênh mông, và dọc
theo các kinh lạch chạy dài bên lộ.
Những buổi trưa qua bắc Mỹ Thuận, ngồi chờ
trong quán, ăn những dĩa cơm với chim sẻ chiên ḍn hay những con tôm dim đỏ
ngậy. Những sạp măng cầu căng nứt, vú sữa tṛn bóng tưởng như tất cả mầu mỡ của
phù sa đồng bằng Cửu Long chan ḥa trong đó. Nhớ nhất là những buổi chiều mưa,
anh và nàng cùng ngồi bên nhau qua bắc Vàm Cống, nh́n những giọt mưa rơi trên
ḍng sông rộng mịt mờ, vừa mới xa Saigon mà đă thấy nhớ lại Saigon ngay.
Anh đưa nàng ra thăm lại đảo, lúc cùng nàng đứng dưới gốc dừa trên băi biển gần
Dinh Cău, nắng ấm, gió rất nhẹ và sóng vỗ th́ thầm, anh nh́n ra biển rộng, an
b́nh, nghĩ đến những giấc mơ ngày nào. Trong đó có giấc mơ, mua được một ḥn đảo
nhỏ để cùng nàng sống những ngày huyền ảo trên đó. Đột nhiên bao nhiêu kỷ niệm
cũ quay lại, từ ngày đầu tiên anh xách va-li đến đảo và cuối cùng là h́nh ảnh
cặp sừng trên cát của con trâu rừng cuối cùng trên đảo bị bắn hạ ở một ấp xa.
Con trâu này là con cháu của bầy trâu mà bà Kim Giao đă đem ra đảo mấy trăm năm
trước trong thời Tây Sơn, con trâu cuối cùng mà anh đă cố đi t́m như đi t́m một
huyền thoại, th́ nay không c̣n nữa, và ‘’Thiên đường đă mất’’ của anh đă mất
thật rồi. Anh từ từ nắm lấy tay người yêu và nh́n vào mắt nàng, nàng mỉn cười
với anh, anh kéo nàng cùng chạy ra biển, như vào một thiên đường mới hoang tưởng
nào đó.
Chiến tranh ngày càng mănh liệt, anh bị gọi nhập ngũ. Một sự t́nh cờ, v́ nhu cầu
anh được một bộ lớn thu nhận và được biệt phái làm việc ở đó. Anh tin rằng vận
hạn cũ của ḿnh đă hết, nay được ở lại Saigon với người ḿnh yêu, xa hẳn những
ngày lang bạt ở chốn tận cùng của trời đất...
*
Măi tới năm 69, khi theo học trường Cao Đẳng Quốc Pḥng, trong một chuyến du
hành quan sát, anh mới có dịp trở lại Phú Quốc, nhưng chỉ đến được phía nam đảo
để thăm trại tù binh An Thới. Trại trải dài, chứa hơn ba chục ngàn tù binh miền
Bắc, và bốn tiểu đoàn Quân Cảnh canh giữ. Tiền của Mỹ, nuôi lính Bắc Việt bị bắt
béo mập như nuôi người đi nghỉ mát dùng để trao đổi tù binh sau này. Do đó chẳng
có một tù binh nào t́m cách đào thoát cả. Hôm đó trong một pḥng riêng, anh có
dịp nói chuyện với một viên Thượng Úy, anh ta cũng sinh ở Hà Nội như anh, và bị
bắt hai năm trước, trong một trận đánh trên vùng cao nguyên. Lúc rời khỏi pḥng,
anh bắt tay anh ta và chúc anh b́nh an, chóng được về với gia đ́nh.
Lần cuối, tháng Tư gần tàn cuộc chiến năm 75, anh lại ra Phú Quốc để tham gia tổ
chức trại tiếp cư cho những đồng bào di tản miền Trung mà tàu của họ không được
phép vào Vũng Tàu hay Saigon v́ sợ rối loạn. Lần này anh cũng chỉ đến được An
Thới, trại tù binh đă bỏ trống hoang tàn, nay phải sửa lại để cho dân tị nạn tạm
cư. Tối hôm đó, anh ngủ lại trại, đêm âm u và tiếng rừng ảo năo không c̣n huyền
hoặc như những ngày trước. Hôm sau, anh lội bộ theo đường ṃn ra phi trường An
Thới để đón máy bay về Saigon. Lúc đứng trên những vỉ sắt ở phi đạo, anh nh́n ra
biển những xà lan đày người tị nạn, chật cứng hứng nắng gắt vẫn phải neo ngoài
xa chờ Hải Quân thanh lọc. Bên trạm kiểm soát, xác mấy Thủy Quân Lục Chiến bị
bắn nằm lẫn với cát, máu ḥa loang lổ với nước biển, v́ lợi dụng lúc hỗn loạn
cướp bóc và hà hiếp dân tị nạn.
Anh lại nghĩ đến ḥn đảo, sau khi anh rời bỏ, đă thành một ḥn đảo của ngục tù.
Từ trại tù binh lính miền Bắc, trước đó là trại Cửu Sừng giam những du đăng bất
trị như trùm Đại Cathay và một bác sĩ miền Trung chống lại chính phủ. Nay lại là
chỗ cho những kẻ tị nạn khốn cùng bị xua đuổi... Nhưng không hiểu sao lúc nào
khi anh nghĩ ḥn đảo, anh vẫn luôn luôn mường tượng như một miền hoang tưởng
huyền thoại nào đó
*
Bao nhiêu năm qua ở xứ ngưới, anh vẫn c̣n nhớ lại có những chiều trên đảo, anh
đứng một ḿnh trên đồi, nh́n biển rộng mênh mông, nh́n những đám mây bay lang
thang trên nền trời xanh, nh́n những đám cỏ may theo gió thổi chạy vờn về cuối
đảo, tự nhiên làm cho anh thấy mong nhớ một cái ǵ xa xôi. Mây và cỏ may thường
làm gợi nhớ đến dĩ văng. Anh chợt nghĩ không hiểu có c̣n dịp nào để quay lại ḥn
đảo này nữa hay không, nhưng mây và cỏ may th́ dù đi đến một phương trời nào th́
người ta vẫn thấy...