Những Bát Phở Việt Nam

 
 

Để tặng Vũ Minh Ngọc, Vacouver B.C.
 

Nguyễn Công Khanh

            Trận tuyết đầu mùa đă đến sớm và tan trước ngày Lễ Giáng Sinh trên vùng Tây Bắc. Năm nào cũng thế, anh chỉ mong tuyết rơi thật nhiều đúng vào ngày đó để có thể lấy cớ từ chối hết mọi việc, được ở nhà ngồi ngắm ngọn lửa hồng reo vui và nghe tiếng củi nổ lách tách trong ḷ sưởi, hay nh́n ra cảnh vật huyền ảo bên ngoài. Tối đến có thể ngồi xem Tivi và lười biếng nằm ngũ quên trên ghế sô-pha trong pḥng khách. Nhưng chẳng năm nào được như ư!


Mới thứ sáu trước lễ Giáng Sinh, c̣n ngồi trong sở nh́n tuyết rơi thêm dày đặc và phủ trắng hết mặt đường. Đang lo không hiểu làm sao lái xe về nhà được th́ một ông ‘‘vượt biển’’ mới đến, tới gần khung cửa thốt lên:
 

-Đẹp quá! Đẹp quá!

Anh quay lại nh́n, thoáng thấy một chút rạng rỡ trên khuôn mặt cằn cỗi.
 

Ông ta nói tiếp:
-Lần đầu tiên trong đời tôi trong thấy tuyết rơi, ông ạ! Sáng nay, tôi ra khỏi nhà, đi trên tuyết hàng giờ, ḷng thấy thanh thản lạ thường

Buổi tối ngày hôm sau, vợ chồng anh đến nhà một người bạn họp mặt với một số bằng hữu. Khung cảnh đẹp, không khí ấm cúng; cũng có ngọn lửa hồng, cũng có những kỷ niệm xưa. Sau đó cả bọn chuếnh choáng men rượu ngồi quàng vai nhau, vỗ bàn, gơ ly và cùng hát. Hát những đoạn cuả bài này quàng sang những đoạn cuả bài khác, thành một bản trường ca xuôi ḍng từ bốn năm chục năm về trước, bất tận và bất hủ. Tự nhiên anh nhớ lại h́nh ảnh những người lính Lê dương say rựợu ôm nhau lảo đảo, hát nghêu nghao trên các hè phố vắng Hanoi, Saigon vào các đêm Giáng Sinh xưa. Ngày nhỏ anh thường sợ và cố tránh xa họ; sau này mới biết trong những tiếng hát đó không phẳi chỉ có hơi rượu mà c̣n có thể vương cả những giọt lệ của đời lính viễn chinh, một chiều nào chợt thấy ḿnh cô đơn, chợt nh́n thấy quê hương ở một nơi nào đó, có thể là bên gịng sông Volga hay bên gịng sông Danube.. đă nḥa trong nước mắt và biết là ḿnh không mong có một ngày về nơi làng cũ, bên gác chuông xưa với những người yêu dấu không bao giờ quên.

Anh nghe lại những bài hát từ thời kháng chiến chống Pháp, anh nghĩ rằng có những người bạn hôm đó, chắc ǵ đă không thấy thoáng qua nỗi nhớ của những ngày theo các đàn anh vượt sông Hồng trong một đêm không thấy trăng, hay ngồi ghe dọc theo sông Bassac mênh mông xuôi ḍng vào Đồng Tháp. Chắc thế nào cũng có người không quên được những quăng đường rừng, có tiếng chim kêu, có tiếng vượn hót, lại có cả tiếng súng vang trong các vùng Đô Lương, khu Bốn , khu Năm, hay miền thượng du Hà Giang, Việt Bắc..

Anh cũng lại được nghe những đoạn của các khúc t́nh ca năo nuột của thời tiền chiến, của những năm 1950, 60,70.. Chắc thể nào chẳng có người nghĩ đến những đêm về sáng cuối cùng của những lần nghĩ phép cố kéo dài. Đứng ở đầu đường Tự Do, nghe lần chót tiếng một nữ ca sỉ vọng lại từ một vũ trường, đang hát một bản nhạc t́nh ngăn cách, chia ly. Và ngày mai lại phải rời thành phố để bạt vào một vùng xa xôi nào đó, tưởng như ḿnh cũng vừa đem theo thêm một mối t́nh lỡ dở.

    Ngày hôm sau nữa, đến đón hai vợ chồng một người bạn từ Michigan sang làm lễ cưới cho cô em gái. Chị có một thời làm xướng ngôn viên cho đài truyền h́nh ở Việt Nam; và anh là một giáo sư hội họa, có bức tranh ‘‘ Vượt Biển’’ vẽ từ hồi trong trại tị nạn được giữ trong bảo tàng viện Tổng Thống Ford.

    Hôm làm lể cưới ở nhà thờ, phía nhà gái chỉ có hai vợ chồng người bạn là anh chị cô dâu, và vợ chồng anh. C̣n lại toàn là phía nhà trai. Lúc đứng trong thánh đường rộng thênh thang và khúc nhạc cưới trỗi dậy, người anh rể thay mặt thân sinh cô dâu, c̣n ở Việt Nam, từ ngoài theo điệu nhạc d́u cô dâu đi vào. Anh h́nh dung lại cô em nhỏ đó, hồi nào mới hai ba tuổi vẫn thường hay đ̣i kẹo bánh các bạn của chị ḿnh. Mấy năm trước vượt biển một ḿnh và nay đang thành gia thất.

    Anh nh́n chị bạn ở hàng ghế trên, thấy chị đang cúi xuống chấm nước mắt. Bỗng nhiên anh cảm thấy trong chỗ đông người cũng có sự cô đơn và trong ngày vui cũng có những giọt nước mắt. Nh́n sang bên cạnh, vợ anh đang đưa khăn lên mắt. Anh cũng thấy ḷng dưng dưng cảm động. Ngay tối hôm đó hai vợ chồng người bạn phải trở về Michigan. Có một điều anh lấy làm ân hận không có đủ th́ giờ để mời họ đi ăn phở; tuy rằng ngày hôm trước cô em gái đă đưa họ đi thăm quán phở Bắc một lần rồi.

Họ ở một vùng có ít người Việt, không có quán ăn Việt Nam. Anh có cảm tưởng như sau cái nhiệm vụ sang đây làm lể vu qui cho cô em vợ, mục đích của anh bạn là phải đi ăn phở. Cũng như anh mỗi lần lái xe trên ngàn dặm xuống Cali, khi tới nơi, nhất định phải đến Bolsa làm một tô phở trước đă, rồi tất cả mọi chuyện tính sau. Anh bạn họa sĩ thèm phở đến nỗi nếu không là đại diện nhà gái phải đưa cô dâu chú rể đi chào các bàn tiệc th́ hai người - anh và người bạn - có thể đă trốn luôn để lẩn ra tiệm phở!

Đă qua một Giáng Sinh bận rộn nhưng đầy ư nghĩa của t́nh bằng hữu cũ, mới. Và anh bây giờ đang chờ một cái tết sắp đến, cái tết của cuộc đời di tản. Năm nào cũng vậy, cứ giờ này các con gái anh lại sắp nhờ: ‘‘Bố ra gốc vườn cắt cho con một nhành cây thật đẹp để con làm cành mai.’’ Lắm khi anh cố ngồi suy nghĩ mà gịng tư tưởng cứ bị gián đoạn v́ tiếng mấy mẹ con rộn rịp lo măng, miến, vây bóng, gạo, để nấu bánh chưng và sửa soạn cổ bàn cho ba ngày tết. Nhiều lần anh đă bảo làm sơ sơ, giản dị thôi, bày vẽ ra mệt quá. Anh nhớ đến một ông bạn chủ báo hay than: ‘‘Bà vợ tôi quanh năm lúc nào cũng thấy cúng với giỗ. Ngày nào cũng thấy bà ấy làm cỗ. Có khi bà ấy làm nhầm cả sang ngày giỗ nhà người khác.’’ Anh biết người bạn chỉ nói đùa nhưng anh nghĩ chính v́ cách sống đó đă làm cho mọi người cảm thấy gần gũi với tổ tiên và tưởng như h́nh bóng tiền nhân lúc nào cũng phảng phất trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi lần ăn một bữa giỗ, mỗi lần nh́n các con anh th́ thầm những lời khấn nguyện với ông bà khuất bóng th́ một lần nữa anh lại thấy rơ ràng gần với cội rễ hơn.

Năm nay anh mong có thể ngồi b́nh yên cắn hạt dưa, ăn mứt, ngắm mấy cành mai vàng, nghe nhạc Xuân để cùng gia đ́nh chờ giờ đi lễ Giao Thừa: và ôn lại trong thời gian qua ḿnh đă làm được những ǵ. Những ǵ ḿnh đang làm và những ǵ ḿnh sẽ làm.. Hôm qua một ông bạn đă lâu không gặp, nói với anh:
- Chúng tôi đến đây, tưởng vừa qua cơn sóng gió, c̣n đang đứng để thở. Nay đọc lại bài của ông lại thấy cuộc đời c̣n vất vả. Ông bắt chúng tôi ‘‘Phá ṿng cương tỏa’’, ‘‘Đi t́m bản sắc’’, và cầm lại ‘‘Mũi dũi’’... và ‘‘Vũ khí trong tay’’ để lại tiến lên...

Anh chỉ cười. Kể ra cũng mệt thật, và nghĩ đến tập tục hưu chiến của ta trong mấy ngày tết. Năm hết tết đến, cũng nên ngưng chiến, v́ ở đây chắc cũng chẳng có ai lo đánh úp. Anh nghĩ phải nghỉ một kỳ, để có cái ǵ vui vui cho mùa xuân tới, nhất là mùa xuân này lại khởi đầu cho một thập niên tới.

Bên ngoài trời mưa rả rích. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lại thổi tạt một lớp mưa bay lất phất vào cửa kính. Ngồi một ḿnh trong nhà, anh lười biếng chợt nghỉ nếu bây giờ có một người bạn nào đến rủ đi ăn một bát phở nóng, và sau đó uống một ly cà-phê đen, ngồi nghe những bản nhạc cũ và nói chuyện phiếm th́ cuộc đời thật không c̣n ǵ bằng nữa.
 

Anh lại nhớ đến người bạn từ Michigan sang đây, cao lương mỹ vị không thích mà chỉ thèm ăn phở. Trong một lúc, bao nhiêu kỷ niệm và giai thoại quanh gánh phở được gợi lại. Anh nhớ mười năm trước đây, lang thang trong trại tị nạn tại Cali, chỉ mong gặp được những người quen cũ. Một lần gia đ́nh anh ngồi cùng bàn ăn với một gia đ́nh khác. Ông chồng nh́n anh nhiều lần, muốn nói cái ǵ nhưng lại thôi. Sau cùng, ông ta nói với anh:
- Tôi trông ông quen quá, không hiểu đă gặp ông ở đâu.
Anh cũng nh́n lại ông, cái h́nh dáng rất quen thuộc, có lẽ anh đă gặp hàng ngày trong quăng thời gian trước. Anh nói:
-Tôi trông ông cũng quen lắm.
Một lúc sau ông ta nh́n lại anh một lần nữa và nói gần như reo:
-Chắc ông hay ăn phở Tàu Bay!
Anh cũng kêu lên:
-Ồ, th́ ra ḿnh đă gặp nhau ở tiệm phở.

    Thành ra h́nh ảnh những người hay ăn phở như anh và ông ta đă thành không tên, không tuổi, muôn thuở bảng bạc không quên. Có thể anh đă trông thấy ông ta thường ngồi ở bàn dưới cái đồng hồ, hay dưới cuốn lịch Tam Đa và thường gọi thêm một tô nước tiết mỗi sáng. Có thể, sau khi ăn xong một tô xe lửa nóng toát mồ hôi, anh lại gặp ông ta trong cái hẻm nhỏ bên cạnh, với một ly cà phê đá và vài chiếc bánh rán nóng hổi.
Hồi ở Saigon, có một năm anh được gửi đi học Anh văn để chờ đi Mỹ du học. Sáng nào cũng vội vàng ăn phở của một bà ở góc đường Sương Nguyệt Ánh. Ăn xong đứng dậy trả tiền th́ bà ta chỉ và nói là đă có người trả rồi. Anh nh́n theo và một lúc mới nhận ra là một người bạn cùng đại đội hồi học lớp sĩ quan tại quân trường Đồng Đế, sau khi ra trường Quốc Gia Hành Chánh đă được Tổng Thống Diệm gửi ra huấn luyện trước khi đưa về các quận. Những ngày sau nữa trong lúc anh c̣n đang ăn, th́ anh ta đến lúc nào, ngồi ở chỗ nào cũng không hay. Khi anh trả tiền , th́ lần nào bà hàng phở cũng nói là có ông đă trả rồi. Anh lại nh́n quanh cố t́m và lại thấy anh ta cười x̣a, hóm hỉnh. Nhiều hôm trễ cả học v́ ngồi lại nói chuyện lính tráng ngày xưa kẻ mất, người c̣n. Khi vào lớp, cũng may là các cô giáo trẻ không nỡ nặng lời với học tṛ già. Anh cố ‘‘trả thù’’, nhưng năm th́ mười hoa mới trả được tiền; chắc anh bạn kia là một tay phở ĺ và nằm vùng ở đó đă lâu. Anh cố nghĩ mà vẫn không hiểu tại sao anh ta lại nhớ và biệt đăi anh như thế. Chỉ biết rằng anh bạn đang làm ăn khá giả nhờ có cửa tiệm bán Vespa ngay góc đường Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt.


Anh lại nhớ đến ông cụ thân sinh ra anh, cũng là một vua ăn phở. Mỗi sáng đi làm, ông cụ thường ăn ở một quán phở sau sở Hỏa xa Saigon. Quen quá đến nỗi như một tiền lệ bất di bất dịch, chú dọn bàn cứ thấy bóng ông cụ ở đầu phố là đă cất tiếng gọi vào trong bếp:
-Một tái nạm hành trần, nước trong, một đĩa hành tây ngâm dấm!
Khi ông cụ đến nơi là đă có sẵn sàng một tô phở ngon lành, bốc hơi trước mặt . Có lần , ông cụ đi qua giả vờ không ghé, khiến chú ta vừa bưng bát phở vừa kêu ơi ới:
-Tái nạm hành trần, nước trong, một đĩa hành ngâm dấm, có ngay rồi đây cụ ơi!

 


Nếu đem góp nhặt tất cả các giai thoại về phở của anh và mọi người th́ chắc sẽ thành một trường thiên bất hủ không bao giờ hết. Nhất là khi nghĩ đến những áng văn chương có hạng về phở. Bà chị anh vừa gởi cho bài ‘‘Phở Đức Tụng’’ của thi sĩ Tú Mỡ. Ông coi phở như một cái đạo và làm thơ thành kinh để ca tụng phở:
...
Phở đại bổ! tốt bằng mười thuốc bắc.
Quế, phụ, sâm, nhưng chưa chắc đă hơn ǵ.
Phở bổ âm, dương, phế, thận, can, t́,
Bổ cả ngũ tạng, tứ chi cùng bát mạch.
Anh em lao động, đồng tiền không rúc rích
Coi phở là món thuốc ích vô song.
Các bậc vương tôn, thường chả phượng, nem công
Chưa nếm phở vẫn c̣n không đủ món.

...
Nói đến thơ phở, anh cũng không quên được Hoàng Hải Thủy, trong một cuốn tiểu-thuyết vui, ông có một nhân vật là thi sĩ, v́ yêu con gái ông chủ tiệm phở nên phải chịu làm bồi bàn để được gần người đẹp. Do đó khách ăn phở nhiều lúc phải giật ḿnh kinh ngạc khi thấy anh ‘‘bồi phở’’ gọi vào trong bếp:
 

Một phở tái, hai phở tái, ba phở tái
Ngầu pín cắt lớn khoanh tṛn
Gân mềm đừng lấy bạc nhạc,
Em ơi c̣n sụn không em?
Hành tây đừng quên đí nhé!


Anh nhớ đến các nhà văn như Thạch Lam đă viết cuốn ‘‘Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường’’, trong đó có bài ‘‘Cốm’’ đă được chọn làm bài tập đọc hồi tiểu học, khó ḷng có ai quên. Và hàng bún ốc với các cô đào về đêm ngồi ăn mà ‘‘nước ốc chua làm soa suưt những cặp môi héo hắt và khiến đôi khi nhỏ những giọt lệ thật thà hơn cả những giọt lệ t́nh...’’. Có thể nói Thạch Lam là nhà văn đầu tiên viết về phở và các món ăn Việt Nam.


Măi đến năm 1957, phở lại được Nguyễn Tuân tán rộng trong tạp chí Nhân Văn tại miền Bắc. Ông kể lại cảnh ông và một số bạn bè ngồi bên hồ ở Helsinki, Thụy Điển, thèm nhớ đến bát phở ở quê hương. V́ bài báo này mà ông đă bị đảng Cộng Sản chỉnh huấn và ông đă phải hứa lột xác cùng phủ nhận tất cả các tác phẩm trước của ḿnh.


Trong ‘‘Miếng Ngon Hà Nội’’ xuất bản cùng năm tại miền Nam, phở và những miếng ngon, những hương hoa cửa đất nước lại được nhà văn Vũ Bằng nói đến mà báo Nắng Sớm 1957 đă viết: ‘‘thật là sâu sắc, tế nhị, thật là chan chứa t́nh cảm, chan chứa t́nh yêu đời, yêu nước...’’. Bà vợ nhà văn Vũ Bằng là người vợ ‘‘tào khang tấm mẳn’’ đầu tiên của ông. Khi đất nước chia đôi, v́ một sự không ngờ, hai ông bà phải xa nhau trong cảnh kẻ Bắc người Nam. Suốt hai mươi năm trời, bao nhiêu nhớ thương ông đă dồn vào các tác phẩm ông viết. Trong cuốn ‘‘Miếng Ngon Hà-Nội’’, đă phảng phất h́nh bóng bà. Nhưng đến ‘‘Thương Nhớ Mười Hai’’ th́ ông đă viết hẳn cho bà. Một năm có mười hai tháng; mỗi tháng lại có một nỗi nhớ nhung riêng, những kỷ niệm thương yêu cũ, những món ăn tinh vi cầu kỳ, đă đẹp mắt lại lạ miệng, tự tay bà chăm chút nấu nướng để ông thưởng thức. Bà là một phụ nữ có nhan sắc, hiểu biết rộng, quảng giao, lại vô cùng khéo léo. Bà đă là một nguồn cảm hứng vô biên cho cuộc đời viết văn của ông.


Những trang đầu của hai tác phẩm trên, ông đều đề tặng bà với những lời nhớ thương tha thiết. Đang viết dở chừng cuốn ‘‘Thương Nhớ Mười Hai’’ th́ nghe tin bà mất ở Hanoi, ông đă khóc; ‘‘Thương không biết bao nhiêu, nhớ không biết ngần nào người bạn chiếu chăn... cuốn sách này để thay mấy lời ai điếu.’’ Mấy tuần trước khi rời nước ra đi, lần cuối anh đến thăm ông ở một căn nhà bên Khánh Hội, nhưng ông đi vắng. Năm trước nhận được lá thư từ Việt Nam của người em họ, con út của hai ông bà, là một giáo sư đă lớn tuổi, báo tin ông đă mất ở Saigon.


Đêm đă khuya, anh c̣n ngồi một ḿnh trong căn pḥng vắng. Hai tác phẩm sau cùng của Vũ Bằng ở trước mặt, bài viết về phở của ông, anh vừa đọc xong lần nữa; và tập bản thảo anh đang viết cũng ngổn ngang trên bàn. Anh ngừng bút viết và chợt thấy thời gian như đă ngừng hẳn lại. Anh muốn thắp mấy nén hương để tưởng niệm hai ông bà, hai tâm hồn đă hiểu nhau và yêu nhau đến thuở bạc đầu. Và anh ta thầm cầu chúc ông tṛn được điều ông hằng ước nguyện là được như chàng Orphé thuở xưa cố t́m sang thế giới bên kia để kiếm cho được người yêu là nàng Eurydice...


Lại nói về phở, không phải chỉ có nhà thơ nhà văn trên mà một số người trong chúng ta coi ‘‘như không c̣n là một nón ăn nữa, nhưng là một thứ nghiện như nghiện thuốc lào, thuốc lá, chè tươi, thuốc phiện.’’


Hăy nghe Vũ Băng tả sự hấp dẫn của một quán phở:


‘Ngay từ đằng xa, mùi phở cũng đă có một sức huyền bí quyến rũ ta như mây khói chùa Hương đẩy bước chân ta, thúc bách ta phải trèo lên đỉnh núi để vào chùa trong rồi lại ra chùa ngoài. Ta tiến lại gần một cửa hàng bán phở: thật là cả một cảnh bài trí nên thơ.’’ 

 

‘‘Qua lần cửa kính, ta đă thấy ǵ? Một bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quă ớt đỏ buộc vào một cái dây, vài miếng thịt ḅ tươi và mềm, chín có, tái có, sụn có, mỡ có, mỡ gầu có, vè cũng có.. Người bán hàng đứng thái bánh, thái thịt luôn tay, thỉnh thoảng lại mở nắp một cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Một lần khói tỏa ra khắp gian hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh trong một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh Tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu.’


‘‘Trông mà thèm quá! Nhất là về mùa rét, có gió bấc thổi hiu hiu, mà thấy người ta ăn phở như thế th́ chính ḿnh đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp ngon lành. Có ai lại đừng vào ăn cho được.’’
 

Bây giờ, bước vào trong quán , hăy nh́n vào bát phở thôi chưa cần ăn đă thấy ngon rồi . Thạch Lam viết:


‘‘Nước th́ trong và lúc nào cũng nóng bỏng, khói lên nghi ngút. Rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm ngát, lại điểm thêm một chút cà cuống như một chút nghi ngờ.’’
 

Và đây, bát phở Tráng, Hanoi của Vũ Bằng


‘‘Cứ nh́n bát phỏ không thôi, cũng thú.’’ , ’Một nhúm bánh phở; một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc: mấy nhát gừng mầu vàng thái mướt như tơ, mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sậm như hoa lựu... ba bốn thứ mầu sắc đó cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng mầu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt.’’


‘’Thế là ‘‘bài thơ phở’’ viết xong rồi đấy, mời ông cầm đủa. Húp một tư nước thôi, đừng nhiều nhé! Ông đă thấy tỉnh người rồi phải không?’


Đây là chỉ nh́n thôi, bây giờ Vũ Bằng cho biết thế nào là một bác phở ăn được:


‘‘Điều cần nhất là bánh phải mỏng và nước dùng phải ngọt, ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt v́ nhiều xương, tẩy vừa mà không nồng, lại tra vừa mắm vừa muối, không mặn quá mà cũng không nhạt quá.’’  ‘‘Đạt được mấy điều đó tức là phở ăn được đấy.’’.


Thêm nữa, cả hai ông đều có những ‘‘định nghĩa’’ về một bát phở ngon có nhiều điểm tương đồng. Thạch Lam viết:


‘Nếu là gánh phở ngon không có đâu làm nhiều nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu ḍn chứ không dai, chanh, ớt, với hành tây đủ cả. Chả c̣n ǵ ngon hơn bát phở như thế nữa. Ăn xong bát thứ nhất, lại muốn ăn luôn bát thứ hai.’’


Vũ Bằng đi xa hơn vào sự thưởng thức của tất cả ngũ giác và lại đầy lăng mạn:


‘‘Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới ngon. Thịt th́ mềm, bánh th́ dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm d́u dịu cái thơm của thịt ḅ tươi và mền, ḥa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng ngọt cứ lừ đi, ngọt một càch hiền lành, êm dịu, ngọt một cách thành thực, thiên nhiên, không có chất ǵ là hóa học... Không, ông phải thú nhận với tôi đi: Có phải ăn một bát phở như thế th́ khoan khoái quá, phải không?’’


‘‘Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có thể ‘‘lâm ly’’ hơn là nghe thấy một câu nói hữu t́nh của người yêu, ăn một bát phở như thế, thử có thể ví như sau một thời gian xa cách, được ngă vào trong tay một người vợ đẹp mà lại đa t́nh vậy!’’


Anh đă thấy thật khó mà mọi người có một định nghĩa chung tàm tạm về một bát phở ngon. Nếu có đi ăn đến hàng ngàn tiệm phở, không tiệm nào giống tiệm phở nào. Bát phở mỗi nơi có một phong vị riêng, một chút đặc biệt mà nơi khác không có và do đó tiệm phở nào cũng có người ăn. Nhưng những người sành ăn lại muốn biết thế nào là ‘‘chân giá trị’’ của một bát phở. Nguyễn Tuân viết:


‘‘... Thật ra, ăn phở cho đúng, đúng cái ‘‘gu’’ của phở phải ăn thịt chín. Thịt chín thơm hơn thịt tái, mùi thơm miếng thịt chín mới biểu hiệu đúng cái tâm hồn của phở. Thêm nữa, về mặt nhăn thức tạo h́nh người thẩm mỹ bao giờ cũng thấy miếng thịt chín đẹp hơn miếng thịt tái.’’


Vũ Bằng viết:


‘‘Muốn biết chân giá trị của nó, theo lời người biết ăn phở, phải là thứ phở chín không thôi, phở chín mà ngon th́ mới thật là ngon đấy.’’  Và ông nhất định đi t́m cái chân giá trị đó:


‘‘Thực ra, điều quan hệ trong một bát phở là cái bánh, nhưng thứ nhứt, như trên kia đă nói, phải cần có nước dùng thật ngọt. Bí quyết là ở chở đó. Và tất cả những hàng phở đều giữ cái bí quyết rất kín đáo, y như người Tàu giữ của, v́ thế cho nên trong làng ăn phở, vấn đề nước vẫn là vấn đề then chốt để cho người ta tranh luận.’’


Hầu hết người ta đều nhận thấy rằng muốn có một nồi nước dùng ngon, cần phải pha ḿ-chính. ‘‘Nhưng chưa chắc thế đă hoàn toàn là phải.’’ ‘Thuyết cho đường nhất định là bị loại rồi. Có người cho rằng phải có nhiều đầu cá mực bỏ vào; có người chủ trương phải có thứ nước mắm tốt; lại có người qủa quyết với tôi rằng muốn có nước dùng ngọt, không thể thoát được món cua đồng - cua đồng giă nhỏ ra, lọc lấy nước, cho vào hầm với nhiều xương ống, nhưng phải chú ư tẩy cho thật khéo, mà cũng đừng ninh kỹ quá sợ nồng.’’  ‘‘Đến bây giờ, ai đă thật biết cái bí mật ấy chưa? Riêng tôi, tôi cũng đă t́m ṭi suy nghĩ rất cẩn thận mỗi khi trịnh trọng nâng một bác phở lên ăn, nhưng thú thực, tôi vẫn chưa biết rằng trong tất cả những ‘‘giả thuyết’’ về ‘‘phương pháp làm nước dùng phở’’ người ta kể ra đó, giả thuyết nào là đúng.’’

Cuối cùng ông đă chịu thua:


‘Kết cục, tôi đă gạt bỏ tất cả những sự băn khoăn đó sang một bên và không buồn nghĩ nữa, v́ tôi thấy rằng ăn một miếng phở, húp một tí nước dùng ngon, thỉnh thoảng điểm một lá thơm hăng ngát mà không biết tại sao phở lại ngon như thế th́ có phần hứng thú hơn là ḿnh biết rơ rằng quá cái bí quyết ngon của phở.’’


Không phải tiệm phở nào cũng có phở ngon hợp với khẩu vị ḿnh. Và không phải một tiệm phở ngon là ngày nào cũng có phở ngon. Có tiệm làm không đều tay, lúc ngon lúc dở, khiến thực khách đô khi phải bực ḿnh thấy ḷng trung thành của ḿnh không được đáp ứng. Thạch Lam viết ‘Có người nào chịu khó đi khảo một lượt vị phở xem sao, chắc có lắm điều mặn, chát, chua, cay’’. Ông phản đối những gánh phở cải lương, muốn thay đổi cái nguyên vị và ông trung thành với ‘‘lối phở cổ điển cũng như ưa nghe tuồng chèo giữ đúng điệu xưa.’’


Ngay cả Nguyễn Tuân cũng đả phá những người đi ra ngoài cái khuôn phép, cái nguyên tắc cơ bản của phở và đưa ra những công thức khác như phở vịt, phở xá xíu... Theo ông, đă gọi là phở th́ phải làm bằng thịt ḅ. Và ông gọi các loại phở trên là phở ‘‘nổi loạn’’.


Vũ Bằng cũng thế, ông cũng đồng ư phải giữ cái hương vị cố hữu và ông có một nhận xét rằng ‘‘Nói đến vấn đề ăn phở th́ người Việt Nam quả là khó tính lạ lùng.’’ ‘‘Người sành ăn phở, người ăn phở kỹ càng không thể dễ tính, nhất tề bước vào một cửa hiệu phở thứ nhất nào để mà ăn liều ăn lĩnh.’’  ‘‘Bởi v́ những người sành ăn đó, thường không tin ǵ cho lắm ở những hàng phở mở cửa hàng. Người ta bảo rằng phần nhiều những hàng phở mở hiệu như thế, nước dùng không được ngọt, hoặc có ngọt th́ lại là cái ngọt của ḿ chính, chứ không phải là cái ngọt của xương ḅ; ấy là chưa nói rằng lại c̣n cửa hiệu phở quá vụng về muốn có nước dùng ngọt lại cho đuờng vào nữa. Ăn phải một bát phở như thế, không những tiếc tiền, mà lại c̣n thấy phí phạm cả cái công ăn, đến sinh ra lợm giọng, bực ḿnh là khác.’’  ‘‘V́ thế, người ăn phở muốn cho thật đúng cung cách, phải thăm ḍ, phải điều tra, phải thí nghiệm kỹ càng rồi mới ăn mà một khi đă chịu giọng rồi, ta có thể tin chắc rằng người đó sẽ là một người khách trung thành, cũng như một người đàn ông nghệ sĩ trung thành với hơi hướng của một người yêu, cũng như một người chồng mê vợ v́ người vợ đă có tài làm một hai món khéo, ăn vào hợp giọng.’


Ông c̣n nói thêm:
‘Duy ta có thể chắc chắn được điểm này là một hàng phở đương làm ngon mà sút kém đi th́ chỉ trong một tuần lễ, nửa tháng, cả thành phố đều biết rơ; trái lại, mới có một hàng phở nào làm ăn được th́ cũng chỉ dăm bữa, mươi ngày là cả thành phố cũng đổ xô ngay đến để mà ‘‘nếm thử’’, không cần phải quảng cáo lên nhật báo lấy một gịng!’’ ‘‘Âu đó cũng là một điểm đặc biệt trong thương trường vậy.’’ ‘Nhiều người cho rằng sở dĩ thế ấy là v́ món phở đứng cao hơn mọi sự lừa bịp của thời nay; phở ngon là ngon, chứ không thể lừa dối người ta được.’’  ‘‘Th́ ra phở không phải chỉ là một món ăn, một sự thích thú cho khứu giác, nhưng c̣n là một vấn đề: Vấn đề ăn phở và vấn đề làm phở.’’


V́ thế khi ăn phở xong, mọi người thường bàn luận tất cả những vấn đề quanh bát phở kỹ lắm.

Hương vị phở vẩn như xưa, nhưng ngoại cảnh đă thay đổi nhiều. Ngày trước thường là phở gánh mà Thạch Lam đă viết: ‘‘anh hàng phở có tiếng rao, có người rao nghe quạnh hiu như tiếng bánh dầy gị đêm đông trong một ngơ khuất.’’ Sau này là những xe phở, tiệm phở đóng đô ở một chỗ cố định và thực khách phải t́m tới ăn.


Cách người ta ăn phở cũng khác. Có một lần ở Saigon, anh cùng mấy người bạn đứng đợi bàn trống ở một xe phở trước rạp Olympic. Hồi lâu mà cũng không thấy hy vọng có ai đứng dậy. Ở ṿng ngoài, một anh bạn sốt ruột, bàn: Tôi thấy cách ăn phở của họ không đúng cách. Ăn đúng cách là không dùng muỗng. Phải cầm bát phở một cách nâng niu như một tác phẩm nghệ thuật, húp từng chút nước một mới thấy ngon. Lúc sau cả bọn đợi bàn măi không được, bèn hùa nhau ăn phở đứng một cách ngon lành tuy hơi vất vả.


Thật tức cười, dân Bắc kỳ ngày trước ăn uống rất là kiểu cách, nhưng đến khi ăn phở th́ là đă không nề hà. Có thể đứng đầu đường, đứng góc phố, trong ngơ hẻm, ăn đứng, ăn ngồi và nhất là ít hàng phở gánh có bầy bàn, nên th́a muỗng thường được bỏ qua không dùng đến. Người ta ăn phở bất cứ lúc nào v́ phở là một ‘‘món quà căn bản’’. Thường th́ ăn phở để điểm tâm, để ăn thêm ngoài các bữa cơm, nhưng nay sang Mỹ phở lại được coi như một bữa ăn chính cho những người không đem theo túi ‘‘lunch’’ hay bỏ bữa cơm chiều.

T́m hiểu tên các hàng phở, cũng có nhiều điều thú vị. Ngày xưa, phở gánh thường không có bảng hiệu, nên thực khách đă phải t́m các sước hiệu để gọi cho dể nhớ. Có thể là đặc điểm của từng anh hàng phở như phở Trọc, phở Cao, phở Gù, phở Lắp, phở Sứt... Có thể bằng những địa danh mà gánh phở ngự trị như: phở Ga, phở Gầm Cầu, phở Cửa Bắc, phở Nhà Thương.. Và đặc biệt nhất là bằng tên cái mũ mà anh hàng phở đội trên đầu như phở Bê-Rê, phở Mũ Dạ, phở Mũ Đỏ, và có những anh nhặt được ở đâu những cái mũ của lính tàu ḅ, tàu bay mà đă tạo nên sự nghiệp tên tuổi cho phở Tàu Bay.
Nguyễn Tuân khám phá ra rằng: không có một hàng phở nào nổi tiếng lại có những tên dài lê thê hay trầm bổng du dương như ‘‘phở Thu Phong’’ hay ‘‘phở Bạch Tuyết’’ cả. Ông nghiệm ra ‘‘cái tên càng độc âm ngắn cộc, càng đáng cho người ăn tin cậy; cái tên một chữ gọn như một nhát dao thái xuống thịt chín.’’


Anh chưa được đọc một tác phẩm nào nói về phở Saigon. Nhà văn Vũ Bằng đă sống nhiều năm ở miền Nam, Chắc ông đă thưởng thức biết bao nhiêu bát phở Saigon, nhưng v́ ông quá thương nhớ đến bà d́ anh, nên bất cứ món ăn ở đâu cũng không thể sánh bằng những món ăn ở Hanoi. Riêng anh th́ thấy phở ở Saigon không có ǵ thua kém phở Hanoi. Anh vẫn nhớ những bát phở 79 đường Vơ Tánh, ăn trong những ngày đầu tiên đến Saigon, vẫn có những hương vị thanh tao như mùa thu Hanoi. Rồi đến những bát phở Tàu Bay sung măn như đồng bằng Cửu Long; và những bát phở gà Hiền Vương, Trương Minh Giảng nước trong, thịt trắng ngà cạnh những sợi da tơ vàng, và có lúc lại được điểm thêm vài chùm trứng non màu hoàng yến trông thật là vô cùng ngon mắt. Cái thiên kiến của Vũ Bằng nhiều lúc cũng có trong anh và nhiều người. Ăn bát phở nơi này nhớ đến bát phở nơi kia. Ăn miếng ngon bây giờ lại nhớ đến miếng ngon ngày trước. Có lẽ v́ thế cái t́nh quê hương của chúng ta lúc nào cũng day dứt không bao giờ nguôi.

Anh đă được ăn những bát phở suốt dọc Việt Nam. Những bát phở từ thuở ấu thờ́ của những gánh phở đầu phố ở Hanoi. Những bát phở thơ ngây mà Thạch Lam viết ‘‘chưa biết mùi đau khổ ấy, chưa nhiễm mùi phức tạp, không cần hành hăng, không cần chanh chua, không cần ớt cay.’’


Những ngày c̣n là học tṛ từ vùng kháng chiến trở về thành, thỉnh thoảng có tiền, anh cũng ṃ đến phở Tráng hàng Than, mà nhà văn Vũ Bằng và nhiều người cho là ‘‘Vua phở 1952’’. Tay cầm chiếc bát không, anh cũng đứng chung với các ông thông, ông phán đạo mạo chờ đến lượt ḿnh. Ăn xong, lại chờ đến lượt để trả tiền. Nhiều lúc sốt ruột, đợi măi, muốn cầm tiền đi luôn...


Anh đă lớn lên với những bát phở ở Hanoi, sau khi đất nước chia đôi, anh lại trưởng thành với những bát phở ở Saigon. Anh ăn phở gần như hàng ngày, tại những quán phở có tên tuổi như Tàu Bay, 79, Tương Lai, phở Ḥa, Ḥa Cựu... hay những xe phở đầu đường không ai cần nhớ tên và cũng chỉ gọi bằng những biệt danh, như các gánh phở ngày xưa.


Anh lại nhớ những bát phở vội vàng tại bến xe, ăn cố trước khi xe chạy, đưa anh về một vùng nào mịt mù xa xôi, và không biết lúc nào trở về để có thể lại ăn phở nữa. Rồi c̣n những bát phở cặn cuối cùng về khuya cùng bạn bè sau khi tan ở vũ trường ra. Những bát phở trưa trong quán vắng, trong những ngày lang thang ở thành phố, với tuổi trẻ buồn nản trôi qua.


Anh đă được ăn những bát phở tại Đà Nẵng, cạnh Air Viet Nam những năm 1955, 56 mỗi lần nghỉ hè về thăm gia đ́nh và nhớ lại những hàng phượng vĩ đỏ rực dọc sông Hàn, mà sau đó ít khi có dịp trở lại.


Những bát phở trong tiệm ‘‘Số 1’’ ở Nha Trang, ăn vội trước khi trở lại quân trường để kéo dài hàng tuần với những bữa ăn ‘‘hỏa tốc’’ có món thịt ḅ dai như lốp xe hơi. Anh cũng đă cố đi t́m, nhưng chưa được ăn một bát phở nào ở Huế, Cần Thơ, Long Xuyên hay Rạch Giá, mà chỉ có những bát bún ḅ Đông Ba, hủ tíu Long Xuyên và bún suông Kiên Giang.


Nhớ nhất là những ngày đang yêu tha thiết em một người bạn. Những lần từ đảo xa trở về Saigon, nhiệm vụ của anh là ngày ngày trung thành đến ‘‘thăm bạn’’. Trong khi chờ người yêu đi học về, anh lại ra chầu ngoài quán phở Tích đầu đường. Anh vừa ăn phở, uống cà-phê vừa nghe một thực khách quen thuộc đẹp trai, tài hoa, hát hay lại nhẩy giỏi là T.N. Dương đau khổ bấm những phím lục huyền cầm và hát bài ‘‘Tôi đưa em sang sông’’. Tự nhiên, trong tim anh cũng thấy bồi hồi, lo lắng.


Những bát phở, sau khi đă có gia đ́nh, bên người yêu xưa với lũ con nhỏ. Sau những buổi cơm chiều, tất cả lên xe ra khỏi nhà đi chơi. Tối khuya lại áp vào mấy tiệm phở đường Pasteur. Anh khó có thể quên được những buổi tối Saigon trời trong gió thổi mát rượi, gia đ́nh anh ngồi cùng với bạn bè chiếm hết cả dẫy bàn, bên những bát phở tái sách, gầu, vè, sụn, sữa. Chắc nhiều người c̣n nhớ món thịt ‘‘sữa’’ này. Đó là thứ thịt ở phần vú con ḅ, những miếng thịt được thái mỏng màu ngà, mùi vị vừa ḍn vừa ngọt nên rất được ưa chuộng, nếu đến trễ là ít khi nào c̣n.

Sau đó là những ngày đầu định cư trên đất Mỹ. Hàng tuần anh lại được ăn những bát phở ‘‘ḍ dẫm’’, ‘‘ khám phá’’ ở nhà hay của bạn bè. Mọi người quây quần, vừa ăn vừa khen. Người th́ gật gù, giọng khuyến khích: ‘‘Cũng gần giống phở’’, người th́ nhiệt thành hơn, kêu:‘‘Giống quá! Giống quá!’’ và ngậm ngùi nhớ đến những bát phở ở quê hương mà ḿnh vừa rời bỏ. Gần chục năm sau, đồng bào đến càng ngày càng đông và tiệm phở mở càng ngày càng nhiều. Anh lại được ăn những bát phở ly hương dọc theo Thái B́nh Dươong bên Mỹ. Seattle với những tiệm phở chính danh, chỉ chuyên về phở: phở Bắc, Tàu Bay, phở Ḥa và những bát phở trong những tiệm ăn khác.

Xuống Portland anh ăn phở Trường. Đến Los Angeles anh ăn phở Bolsa, 79 và có một thời phải ghi tên chờ đợi để được dẫn vào bàn ăn ở tiệm phở Ḥa! Sang miền Đông nước Mỹ, anh ăn những bát phở Đại Tây Dương ở Washington DC và xuống Richmond, VA anh lại được vợ chồng cô em gái mời ăn phở nhà nấu, có nêm một chút mắm ruốc khiến nước phở có vị ngọt và mềm một cách lạ.


Anh c̣n muốn đi khắp nước Mỹ, từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam để được thưởng thức những bát phở của đồng bào anh. Anh lại c̣n muốn đi khắp cả thế giới, đến những nơi có đồng bào anh ở. Từ Canada qua Pháp, Anh, Ư, Đức, và tới Sydney, Melbourne, Úc châu... để được đến những quán Việt Nam, mà chắc nơi nào cũng vẫn giữ ít nhiều mùi vị cố hữu của bát phở quê hương.


Anh lại nhớ đến những người xưa, như Thạch Lam trong đám người ăn phở, như những ‘‘người đều hợp ḷng trọng sự thưởng thức món quà ngon, nâng cách ăn phở lên hàng nghệ thuật đáng kính’’.
Đến Vũ Bằng nói tới‘‘những miếng ngon mà người Việt Nam ăn vào thấy ngát mùi đất nước Việt Nam, thấy ḿnh Việt Nam hơn, và thấy thích thú, kiêu hănh được trời cho làm người Việt Nam.’’
Hơn thế nữa, có Nguyễn Tuân, dù sống trong chế độ Cộng Sản bao năm cũng vẫn c̣n thần thánh hóa bát phở, trong một ngày xa quê hương:


‘‘Tôi thấy rằng trong muôn vàn thực tế phong phú của nhân dân Việt Nam, có một cái thực tế mà hằng ngày ít ai nỡ tách rời nó, tức là cái thực tế phở. Cái thực tế phở ấy lồng vào trong cái thực tế vĩ đại của dân tộc. Trong một giọt nước rơi lóng lánh có cả câu chuyện của vầng thái dương; trong miếng ăn, cũng thấy rộng được ra những điều cao cả yên vui trên đất nước bao la tươi đẹp. Tôi thấy tổ quốc ta có núi cao ṿi vọi điệp điệp, có sông dài đằng đẵng, có biển bờ thăm thẳm, có những con người Việt Nam dũng cảm xây đắp lịch sử quang vinh, những công tŕnh lao động thần thánh; nhưng bên cạnh những cái đó, tôi biết rằng Tổ quốc tôi c̣n có phở nữa.’’


C̣n riêng anh, cứ mỗi lần nhận được thư của người em từ Saigon, viết rằng ông cụ thân sinh ra anh ngày ngày vẫn đạp xe đến tiệm phở, và cứ mỗi lần anh thấy đàn con vẫn ăn phở một cách say sưa, th́ anh vẫn mănh liệt tin rằng Việt Nam của anh dù thế nào đi nữa và dù có ở nơi đâu đi nữa th́ cũng vẫn c̣n và sẽ c̣n măi măi...



 Nguyễn Công Khanh, Seattle