Cuộc Viếng thăm Vancouver
trên đường đi Alaska
Nguyễn Thị Hở  



        Sau 3 chuyến du lịch trên tàu biển hầu hết là ở châu Âu, một phần Trung Đông và một chút Bắc Phi chúng tôi muốn trở về thăm vùng cây nhà lá vườn của quê hương thứ hai này. Do đó, tháng 6 năm 2000, chúng tôi thực hiện cuộc viếng thăm vùng băng tuyết Alaska.


Cuộc đi năm nay hơi khác hơn ba lần trước là lần này chương tŕnh được gọi là Cruise Tour. Theo tên gọi, một phần của chương tŕnh là dùng du thuyền đi thăm các thắng cảnh và một phần là đi trên đất liền, bằng xe bus, bằng xe lửa và có thể cả bằng máy bay (tùy thời gian, lộ tŕnh và tùy túi tiền nữa). Cũng v́ lư do chương tŕnh đi chung Cruise Tour nên chúng tôi chọn mua vé qua một hăng chuyên tổ chức đi chung, hăng Ship & Shore (cái tên cũng đủ chứng tỏ về ngành chuyên môn của công ty du lịch này). Công ty du lịch này không có du thuyền mà chỉ kư hợp đồng bán vé cho một số hăng tàu, c̣n phần du lịch trên bộ th́ hoàn toàn do công ty đảm nhiệm. Phần trên biển, chúng tôi chọn du thuyền Dawn Princess của hăng tàu Princess, hăng tàu nổi tiếng với chiếc tàu Pacific Princess đă dùng làm phim ‘‘Love Boat’’ trong nhiều năm trên chương tŕnh TV, được phát h́nh (và phát h́nh lại) hàng tuần vào những thập niên 1970-80. Chỉ khác là chiếc tàu Pacific Princess quá nhỏ và cổ lỗ, thuộc loại ‘‘antique’’ so với Dawn Princess (với sức chứa hơn 2000 du khách, và thủy thủ đoàn cộng với nhân viên phục vụ trên tàu 870 người).
Chuyến đi này, chúng tôi có thêm hai bạn đồng thuyền và đồng hành, đó là chị Cao Thị Lễ và chị Vũ Mạnh Hùng. Theo chương tŕnh, máy bay đưa chúng tôi tới Vancouver vào khoảng buổi trưa và chiều th́ lên tàu. Tàu cặp những bến Ketchikan, Juneau, Skagway rồi đi vào vùng Glacier Bay, College Fjord trước khi cặp bến Seward (tất cả đều thuộc Alaska) để bắt đầu chương tŕnh đi sâu vào trung tâm Alaska. Sau khi lên bộ tại Seward, chúng tôi dùng xe bus của Ship & Shore đi Anchorage, đổi bus khác đi Glennallen, nghỉ một đêm, hôm sau đi Fairbank. Ở Fairbank hai ngày rồi lấy xe lửa Alaska Railroad (nổi tiếng với toa tàu lộ thiên, từ cửa sổ cho tới nóc tàu toàn bằng kính) đi Denali National Park, hôm sau trở lại với xe bus của Ship & Shore để về ở Anchorage 2 ngày rồi lên máy bay về nhà.


Trong 4 chuyến du lịch bằng tàu biển, các thắng cảnh và sinh hoạt của dân địa phương trên bộ, mỗi nước có những đặc điểm, với những sắc thái riêng của từng vùng. Phần trên du thuyền th́ tất cả đều được tổ chức đại khái giống nhau, đủ các mục tiêu khiển để làm vừa ḷng một số lượng hàng ngàn du khách với những sở thích khác nhau.
Trong bài này do đó, chúng tôi chỉ xin kể về Alaska, v́ đặc biệt trong chuyến này, chúng tôi đă nối được ṿng tay với các anh chị em CSV/QGHC ở Vancouver, nơi mà các anh chị em bên đó tự xưng với biệt danh là làng chài HC Vancouver.


ĐẾN VANCOUVER, THĂM LÀNG CHÀI QGHC.

Khi được biết chương tŕnh do Ship & Shore sắp xếp cho chúng tôi bay tới và lên tàu cùng ngày, chúng tôi quyết định phải tới Vancouver sớm hơn. Lư do là chúng tôi ai cũng muốn nhân cơ hội đă tới th́ phải đi thăm thành phố. Hơn nữa, qua những liên lạc e-mail gần đây, chúng tôi thoảng nhớ là nhóm anh chị em CSV/QGHC Vancouver có lên tiếng mời các đồng môn ghé chơi. Tôi liền bàn với chị Lễ và chị Lễ liền bắt liên lạc thăm ḍ. Khi được hồi âm là càc anh chị em Vancouver nhận lời làm hướng dẫn, chúng tôi liền yêu cầu Ship & Shore đổi chương tŕnh cho chúng tôi tới Vancouver sớm hai ngày trước. Họ đă sắp xếp cho chúng tôi ở tại Rosedale on Robson Suite Hotel, ngay trung tâm thành phố Vancouver, Canada.


Rút kinh nghiệm lần đi chơi chung trước (sém bị lỡ tàu), chúng tôi chia tất cả các giấy tờ, máy bay, khách sạn, giấy lên tàu, của ai nấy giữ thay v́ một người giữ hết. Trưa thứ bẩy 3-6-2000, chúng tôi gặp nhau tại phi trường Dulles và khởi hành đi Vancouver qua ngả Houston bằng Continental Airlines. Ship & Shore đă sửa soạn khá chu đáo, cho chúng tôi biết là thời tiết Alaska vào tháng 6, có thể nóng lên tới 70-80 độ, lạnh xuống đến 40-50 độ F và ... nắng mưa là ‘‘chuyện của trời’’. Do đó, mặc dầu đă được nhắc nhở :"remember to take only half the clothes thou think you needs, and twice the money", mỗi người chúng tôi cũng khệ nệ một valise khá nặng nề. May mà cái nào cũng có bánh xe nên cũng đỡ vất vả.


V́ đổi máy bay vào những ngày chót, nên khi lên máy bay, chúng tôi mới biết là chỗ ngồi ở tận băng chót cuối tàu. Tuy nhiên, sau khi máy bay khởi hành th́ chúng tôi cũng t́m được chỗ trống đổi cho thoải mái hơn. Khi tới Houston trời đang mưa, nh́n qua cửa kính, một màu xanh ŕ mát mắt, chỉ khi máy bay đáp xuống Houston, chúng tôi mới biết là bên ngoài thời tiết đang trên 90 và độ ẩm th́ rất cao. Chờ đổi máy bay ở Houston gần 4 giờ, chúng tôi muốn thử đồ ăn Mễ, nhưng giờ chót th́ lại là món gà chiên quen thuộc.


Tới Vancouver th́ trời đă khuya, cả một vùng trời sáng rực như một biển hoa đăng. Vào tới nhà ga phi trường, h́nh ảnh đầu tiên là cách trang trí tượng trưng của người da đỏ khá khác lạ. Nhân viên sở di trú xét thông hành rất vui vẻ, khi hỏi và biết chúng tôi ở lại chơi Vancouver hai ngày trước khi lên tàu nên có vẻ lại c̣n sốt sắng hơn, chỉ dẫn những thắng cảnh và cho biết Stanley Park là nơi nên thăm.


Ra khỏi nhà ga phi trường, chúng tôi loay hoay mất gần nửa giờ. Lư do là Ship & Shore cung cấp giấy đi taxi của hăng Black Top Cab, ngày cuối tuần và gần nửa đêm Black Top Cab tập trung tại trung tâm thành phố nên không có xe nào tại phi trường. Sau phải hỏi và được biết chỉ có cảnh sát phi trường mới có quyền gọi hăng taxi, và cảnh sát tại phi trường (Vancouver, hay tại Canada) không gọi là Airport Police Officer mà gọi là Airport Commissioner. Nhờ ông này gọi gần nửa giờ sau mới có hai chiếc Black Top Cab đến cách nhau khoảng 5 phút. Một điều đáng ghi là đa số tài xế taxi tại đây là người thiểu số (và có lẽ cũng tại nhiều thành phố khác đa diện, nhiều sắc dân), đặc biệt là người Ấn vùng Punjab với cái turban cuốn trên đằu. Xe hai chị Lễ và Hùng vọt đi trước. Khi chúng tôi có xe và đi sau, ḷng tôi bồn chồn lo lắng. Phải đến khi xe về đến khách sạn, nh́n thấy hai chị đang làm thủ tục check in mới được yên tâm.


Sáng chủ nhật 4-6-2000 thức dậy, qua khung cửa kiếng từ tầng lầu 9, nh́n xuống thành phố Vancouver dưới ánh ban mai trong lành, yên tịnh, tâm hồn thật nhẹ nhàng thanh thản. Xa xa, những dăy núi chập chùng, đỉnh c̣n phủ tuyết trắng khiến tôi mường tượng tới cảnh núi Fuji trong những trang lịch của Nhật được xem hồi c̣n nhỏ. Mở TV th́ cũng lại CNN như bên Mỹ, các đài địa phương th́ quảng bá khá nhiều các dịch vụ văn hóa, y tế, xă hội, phục vụ dân chúng.


Khi chúng tôi đă sẵn sàng xuống tới pḥng khách của khách sạn, th́ cũng là lúc anh Nguyễn Thanh Hùng, (CSV ĐS-17 và là môn đệ của chị Lễ trước kia) đến với chiếc minivan. Anh Hùng mang cho một cuốn Đặc san Xuân Canh Th́n của CSV/QGHC Seattle và Vancouver, với h́nh bià tŕnh bày trang nhă, bài vở hay khá nhiều, bao gồm nhiều khiá cạnh hữu ích.

 

 

Anh Hùng đưa đi xem Hội chợ cây kiểng ‘‘Vancouver Garden Show’’, mỗi năm chỉ tổ chức một lần ở một khuôn viên tư nhân, rộng khoảng trên 40 mẫu. Trong khuôn viên có rất nhiều gian hàng triển lăm cây kiểng, bán đồ tiểu công nghệ, sách báo, dụng cụ liên quan đến việc làm vườn, xây hồ cá v.v... Có khu trưng bày kết quả thi đua chưng hoa, trồng cảnh (hoa ở đây to hơn hoa ở Mỹ, sau này khi lên đến Fairbank, thấy hoa c̣n lớn hơn ở Vancouver, chúng tôi mới được biết là v́ ở những vĩ tuyến cao vào mùa hè thời gian ngày rất dài nên bông hoa phát triển không ngưng nghỉ), khu bán đồ ăn, sân khấu tŕnh diễn văn nghệ, trong khi ban nhạc với ca sĩ đang tŕnh diễn th́ ở phía sau, một số người Ấn đang sửa soạn cho màn kế tiếp. Một bất ngờ đặc biệt là xen vào giữa những gian hàng hoa là một quán tranh phong cảnh Việt Nam và Canada. Đây là gian hàng của anh Nguyễn thế Vĩnh, một CSV/QGHC ĐS-14, một tài hoa của làng chài Vancouver. Anh Vĩnh cho biết đă tự học vẽ, nhưng xem tranh của anh th́ không thua ǵ các hoạ sĩ chuyên nghiệp. Tôi thích nhất là những tấm tranh đầy sắc thái Việt Nam. Cháu trai của anh đứng cao gần bằng bố, phụ anh quán xuyến gian hàng. Tôi mừng thấy anh Vĩnh dám giới thiệu tranh Việt Nam tới người bản xứ, có vậy người đi hội chợ mới có dịp biết thêm về Việt Nam và tài nghệ của người Việt.


Rời địa điểm hội chợ, anh Hùng đưa đi xem phố Tàu, khu chợ người Á Đông, có xen vào các cửa hàng của người Việt Nam, đồ ăn đủ thứ, nhưng rau trái có vẻ đắt đỏ, rồi chúng tôi ăn trưa tại đó. Xuống khu phố cổ Vancouver (old town), nơi có chiếc đồng hồ đứng chạy bằng hơi nước. Theo anh Hùng, thành phố Vancouver cũng có những khu găng tơ, không được an ninh. Buổi chiều, chúng tôi được anh Hùng đưa vào Stanley Park, v́ là chủ nhật nên khó mà có được chỗ đău xe. Phải thâm phục các nhà quản trị thành phố là ngay cạnh trung tâm thương mại của thành phố, nơi mà một tấc đất là một tấc vàng mà c̣n bảo tồn được một khu công viên rộng lớn bằng cả trung tâm của thành phố Vancouver (nh́n trong bản đồ mới thấy Stanley Park lớn bằng toàn diện downtown của Vancouver). Dân chúng có chỗ đi chơi, xả hơi cuối tuần, có cả băi biển, thật yên tịnh, thích thú. Nh́n quanh, trời núi bao la, cây cỏ xanh tươi, thật đẹp. Xa xa trên ghềnh núi, nối với khu thượng lưu North Vancouver ở bên kia eo biển là cây cầu treo Lion Gate Bridge, phong cảnh thật hữu t́nh.


       
Khi về đến nhà anh Hùng th́ chị Hùng đă sẵn sàng món giải khát đón chờ chúng tôi. Món hột vịt lộn của anh Hùng mới mua ở chợ Việt Nam được luộc nóng hổi để lót bụng. Chị Hùng và hai cháu, một trai một gái trông thật hiền ḥa. Từ pḥng khách nhà anh chị Hùng nh́n ra xa xa cũng lại cảnh núi non tuyết phủ, cảnh đẹp như tranh. Trong khi chờ đợi các quan viên của làng chài tới, chúng tôi được gia chủ cho đi xem một ṿng quanh nhà. Trong vườn có đủ loại hoa, hoa hồng to bằng cái chén, mùi hương thơm ngát khiến tôi nhớ tới những cánh hồng Đà Lạt, Vancouver có vẻ giống Đà Lạt thơ mộng thật. Nhà có hồ bơi, đă được anh chị đổi thành hồ cá bơi, làm chỗ nuôi cá. Ở sân thượng th́ anh chị đang làm chỗ thực nghiệm trồng nấm.


Rồi quan viên của làng chài Vancouver cũng lần lượt đến: anh Mai Như Mạnh (ĐS-4), anh Nguyễn Thế Vĩnh (ĐS-14), anh Vũ Minh Ngọc (ĐS-16). Phần anh Nguyễn Đ́nh Phúc (ĐS-11) v́ bận việc ở xa, không về kịp, nhưng đă có chị Phúc đại diện. Có lẽ v́ chức Trưởng Ấp đă làm anh Phúc không yên tâm khi khách tới mà làng vắng anh nên trong ngày anh đă gọi điện thoại viễn liên cả chục lần về nhắc nhở anh em ở nhà, và c̣n tiếp chuyện riêng với mỗi người chúng tôi. Anh quả thật quá chu đáo. Bữa tiệc thật hấp dẫn với nồi bún riêu của chị Phúc, bún chả nướng thơm phức của anh chị Hùng, lại được khai vị với rượu lễ của anh Ngọc mang từ California về, cuối cùng là trái cây ngọt lịm của anh Mạnh. Chuyện tṛ đủ cả, từ việc làm ăn tới vấn đề Tổng Hội, vấn đề hội nhập v.v.... Qua câu chuyện, chị Vũ Mạnh Hùng và anh Mai Như Mạnh nhận ra là đă quen thuộc trong chính trường từ những ngày xa xưa. Anh Nguyễn Thanh Hùng gọi chị Lễ là cô, xưng em nghe thân thiết làm sao. Phần chúng tôi không được quen biết ai trước cả nhưng chỉ một ngày này, chúng tôi có cảm tưởng cũng đă hội nhập vào làng chài dễ mến này. T́nh đồng môn đă đưa chúng tôi tới gần nhau.


        Hôm sau, thứ hai 5-6-2000 cũng là ngày cuối của chúng tôi tại Vancouver. Anh Vũ Minh Ngọc đảm trách vai tṛ hướng dẫn cho chúng tôi tiếp tục cuộc thăm viếng. Trước hết, anh cho đi xem một công viên rộng lớn, trang trí thật thanh lịch, thật xứng đáng với cái tên "Queen Elizabeth Park". Tản bộ trong công viên, nh́n trời núi bao la, ngắm cây cảnh màu sắc tươi thắm, nghe chim ca ríu rít, nước róc rách chẩy, một con sóc đen huyền băng qua băng lại, nghĩ thật an lạc, thú vị làm sao. Anh Ngọc tâm sự, anh vẫn thường tới đây để t́m sự lắng dịu cho tâm hồn. Tôi th́ nghĩ, chỗ này để tập thiền hành th́ hẳn là an lạc lắm. Và cũng tại đây anh Ngọc đă tâm t́nh với chúng tôi, anh không thể ngờ có ngày hôm nay để anh dẫn chúng tôi đi thăm công viên này được. Khoảng 2 năm trước đây, anh nằm liệt giường v́ thận hư. Anh có được ngày hôm nay là nhờ có một người chị (hay em mà tôi không nhớ rơ) từ Việt Nam qua giúp cho anh một trái thận. Nghe đến đây, tôi chợt nhớ cách đây vài năm, nhà tôi cũng có một người bạn ở California cùng bệnh như anh, và cũng nhờ bà vợ cho anh một trái thận, do đó anh đă như người được tái sanh. Thật là tinh thần gia đ́nh Việt Nam đáng ca ngợi biết bao. Mong sao t́nh gia đ́nh QGHC của chúng ta cũng được tái sanh như tinh thần gia đ́nh Việt Nam vậy.

 

Các chị VMHùng, Hở, Lễ và anh Ngọc, Queen Elizabeth Park


Rời công viên Queen Elizabeth, chúng tôi đi thăm khu người Tàu Hồng Kông chuyển vốn sang lập nghiệp và để "chân trong chân ngoài", chờ t́nh h́nh Hong Kong lắng dịu trước và sau ngày Hong Kong đổi chủ. Trước tiên, chúng tôi được thăm một ngôi chùa khá lớn, đầy những phật tích uy nghiêm, gần giống nhưng nhỏ hơn ngôi chùa Hsi Lai ở Hasienda, California. . Gần tới cổng chùa đă nghe tiếng kinh tụng niệm vang vang khắp nơi. Khách văng lai có khá nhiều dân bản xứ (hay tứ xứ) tấp nập tới lui. Người Tàu họ biết hợp tác với nhau để làm những công tŕnh lớn, có giá trị, thật đáng phục. Nghĩ lại cộng đồng của ḿnh mà buồn. Vào trung tâm thương măi Aberdeen Shopping Center, ngay cổng vào là một cái đồng hồ mà các con số ghi giờ là những cột nước màu phun cao, thay đổi từng phút khá độc đáo. Bao quanh khu thương măi có các khách sạn, quán ăn cũng của người Tàu, nhưng lác đác cũng thấy có những tên Nhật, tên Đại Hàn, và rồi cũng có cả tên Việt nữa. Đó là "quán Phở Ḥa" , một quán phở thuộc Hệ Thống Phở Ḥa. Theo anh Ngọc, người Tàu ở Vancouver đông hơn người Nhật, người Đại Hàn. Trời đang nắng chợt một cơn mưa rào đổ xuống khi chúng tôi tiến vào tiệm Phở Ḥa. Anh Ngọc hiện là quản lư Phở Ḥa tại Vancouver và anh cũng là một trong những sáng lập viên ra hệ thống Phở Ḥa trên thế giới (ngoài các tiệm tại một số tiểu bang Mỹ c̣n có một số tiệm tại Nam Dương, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Đài Loan). Vào tiệm chúng tôi thấy khách ngồi chật tiệm, đa số là người Tàu, Đại Hàn và người bản xứ hay Gia Nă Đại, hay Hoa Kỳ, hay du khách từ Âu châu tới, ai cần biết họ là ai (who care), chỉ cần biết là họ vào để ăn Phở Ḥa. Chị Hùng bật khen nhưng anh Ngọc khiêm nhường "Thuyền to, sóng lớn chị ơi...." Nghe anh kể, chúng tôi khâm phục chí khí và kinh nghiệm làm ăn của anh. Anh đă tỏ ra là người không đầu hàng định mệnh. Anh vẫn hăng say hoạt động và lo cho gia đ́nh, hướng dẫn con cái trên đường sự nghiệp. Anh Ngọc quả thật là có chí.
Trở về khách sạn, chúng tôi chia tay với anh Ngọc trong niềm cảm phục tràn đầy. Ba giờ chiều, lên tàu, năm giờ, tàu nhổ neo đi Ketchikan, nh́n lại bến tàu Vancouver xa dần, ḷng tôi lưu luyến, mến tiếc hai ngày vui qua với anh chị em làng chài Vancouver . Các anh chị qủa t́nh là quá hiếu khách, đă tiếp chúng tôi như những người thân, tràn đầy t́nh đồng hương, đồng môn, nghĩa thầy tṛ.



Tàu rời bến Vancouver
Thiết nghĩ đây cũng là một trường hợp điển h́nh để Tổng Hội nghiên cứu trong tương lai. Đă đến lúc nên thành lập ban du lịch hầu tạo cơ hội cho các anh chị em CSV muốn nối ṿng tay lớn. Gặp nhau, tay bắt, mặt mừng, có dịp chuyện tṛ tâm t́nh chắc chắn là phải khác hơn là chỉ biết qua e-mail hay bản tin. Thấy 7 anh chị em CSV ở Vancouver sinh hoạt thân t́nh như trong một gia đ́nh, ngẫm lại t́nh h́nh Tổng Hội c̣n lung tung mà buồn? Tổng Hội có cần không? Chi Hội hay Tổng Hội, cái nào quan trọng hơn? Anh chị em QGHC Vancouver chẳng có ǵ cả, chỉ có 7 tấm ḷng đầy nhiệt huyết để sưởi ấm ḷng nhau nơi xứ người trong những ngày sương mù lạnh lẽo mà thôi.