30 NĂM NHỚ LẠI ĐỌC LẠI

 

                                                                                            Thanh Văn

 

            Ba mươi năm trước những ngày này, những ngày cuối của tháng 4 năm 1975, khi cuộc chiến Việt Nam đang dần đến hồi kết cục, Bắc quân ào ạt tiến chiếm hết thành phố này đến thị trấn khác của miền Nam, trong khi đó quân đội miền Nam Việt Nam, một quân đội vẫn tự hào là trưởng thành trong chiến tranh với quân số hơm 1 triệu tay súng dưới cờ đă lũ lượt bỏ chạy. Các tướng lĩnh chỉ huy các mặt trận đă lẳng lặng lên phi cơ, ra tầu chiến bỏ mặc quân sĩ dưới quyền, nhiều khi với mớ lệnh lạc tiền hậu bất nhất, tiến thoaí đổi thay từng giờ, khiến cấp thừa hành không biết đâu mà theo. Nhiều thành phố ở miền Trung và Cao nguyên đă bị bỏ ngỏ cho Cộng quân đến tiếp thu không tốn một viên đạn.

Trong khi đó tại Saigon, các chính trị gia lúng túng, cuống cuồng t́m giải pháp cho t́nh trạng tuyệt vọng của miền Nam ngày càng hiện rơ. Những khuôn mặt chính trị cơ hội xưa nay sau nhiều ngày tháng im lặng v́ lập trường 4 không của ông Thiệu khiến không dám chường mặt ra ti toe múa may th́ nay giữa lúc t́nh h́nh như trứng để đầu đẳng, chuông treo bằng sợi chỉ mành, đă hiện ra nhi nhoe bàn tán, phê b́nh chỉ trích, tuyên bố, tuyên mẹ, đả đảo, ủng hộ lung tung càng làm cho ḷng dân vốn hoang mang càng thêm rối rắm.

            Nhiều bạn hữu của tôi lúc đó đă sửa sọan cho một cuộc di tản khỏi nước, kẻ th́ âm thầm làm passport ngọai giao, kẻ th́ liên lạc với các ṭa đại sứ ngọai quốc để t́m cách sắp xếp một chỗ ra di an toàn cho bản thân và gia đ́nh. Người khác th́ liên lạc với các bạn hữu trong hải quân, không quân để t́m một chỗ trên chiến hạm hay máy bay khi họ bỏ nước ra đi. Riêng bản thân tôi v́ chỉ mới từ địa phương (miền đồng bằng Cửu Long) đổi về giữa năm 1974, chưa nắm vững t́nh h́nh, lại bị ảnh hưởng của vị chỉ huy trực tiếp lúc đó là một dược sĩ phụ tá Tổng Trưởng Cựu Chiến Binh, một người được mô tả là “thông kim bác cổ”, có nhiều bạn bè giữ nhiệm vụ cao cấp trong mọi ngành, kể cả các bạn bè ngọai quốc. Ông này đă cho tôi xem bản văn của một cơ quan Hoa kỳ kèm theo mẫu để ghi tên những người muốn bỏ nước ra đi mà viên cố vấn ở Bộ đă đưa cho ông để thiết lập và giao lại cho đương sự trong thời hạn ngắn nhất để phía Hoa Kỳ sẽ sắp xếp cho ra đi vào những ngày kế tiếp và cuối cùng của tháng 4 nnăm 1975. Ông dược sĩ nói với tôi một cách qủa quyết rằng theo những nguồn tin rất đáng tin cậy mà ông hiện có th́ vẫn c̣n có giải pháp cho miền Nam Việt Nam. Cho dù quân Cộng Sản có vào Saigon th́ miền Nam Viêt Nam tệ lắm cũng sẽ chỉ biến thành “nhờ nhờ” mầu hồng chứ nhất định không thành đỏ được. Ông cũng cho hay là ông nhất định sẽ ở lại chứ không di tản. Là người Việt Nam tôi hoàn toàn đồng ư với ông rằng không ai ưa thích chiến tranh hết, mọi người đều trông đợi một ḥa b́nh sẽ đến cho đất nước. Tôi cũng đă nghĩ rằng người Cộng sản chủ trương độc tài đảng trị nếu nay họ chấp nhận một miền Nam chỉ chịu ảnh hưởng nặng của họ (tức là thành nhờ nhờ mầu hồng) để nhờ đó miền Nam quét sạch nạn tham nhũng và hối mại quyền thế mà lâu nay giới quân phiệt miền Nam, sau khi lật đổ anh em ông Diệm đă đưa đất nước từ t́nh trạng xấu đến qúa tồi tệ, đă và đang áp đặt tại miền Nam Việt Nam để sau đó tiến tới thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử trong ḥa b́nh th́ thật chẳng mong ǵ hơn và c̣n ǵ phải thắc mắc. Điều này thật sự trong ḷng tôi vốn ấp ủ từ lâu. suốt 10 năm phục vụ trong guồng máy chính quyền miền Nam, thay đổi từ địa phương về trung ương, từ Bộ này sang Bộ khác rồi lại từ trung ương đi địa phương và cuối cùng lại từ địa phương về trung ương. Tôi đă chứng kiến và biết khá rơ tư cách của một số cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự. Thật sự nhiều người trong bọn họ là những tên buôn dân bán nước, sẵn sàng làm bất cứ điều ǵ dù điều họ làm đem lại bất lợi hiển nhiên cho chính cơ quan, chính quyền mà họ đang phục vụ, họ cũng không hề thắc mắc bởi nó đă mang lại lợi nhuận, tiền tài và đôi khi cả địa vị cao hơn cho họ. Trong t́nh h́nh đất nước lúc đó không phải là thiếu những cấp chỉ huy quân sự tài giỏi và trong sạch cũng như những cấp chỉ huy dân sự trong trắng và đa tài, nhưng v́ bè đảng của bọn sâu dân mọt nước quá lớn, bao trùm toàn lănh thổ, khiến người có ḷng và có tài không c̣n chỗ mà thi thố tài năng. Chỉ c̣n một cách là nhờ cơn băo lớn, gió mạnh, quét sach lũ sâu kiến đó th́ họa may mới có cơ làm nên những chuyện đáng làm. Trong ư nghĩ đó và tin vào những suy luận của vị chỉ huy của ḿnh, tôi đă từ chối tất cả những gợi ư và đề nghị ra đi bằng nhiều phương tiện khác nhau vào những ngày cuối cùng của tháng 4, 1975.

            Đêm 28 Việt Cộng pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhất, sáng sớm ngày 29 anh ruột tôi, người đă rủ tôi đem vợ con vào phi trường để ra đi cùng với anh, đă lên phi cơ C130 một trong những chuyến bay cuối cùng rời phi trường Tân Sơn Nhất ngày hôm đó để bay sang căn cứ Clark ở Phi Luật Tân.

            Đêm hôm sau 29, đoàn tầu do Đề Đốc Hoàng Cơ Minh chỉ huy tách bến Bạch Đằng để theo sông Ḷng Tàu ra biển Nam Hải đă đem theo người bạn Thiếu Tá Hải quân sĩ quan an ninh Bộ Tư lệnh Hải Quân Saigon, người buổi sáng ngày hôm trước c̣n ngồi trước bàn giấy của tôi gần 4 giờ đồng hồ cố thuyết phục tôi theo anh đem gia đ́nh xuống chiếc hải đĩnh mà anh được cung cấp để ra đi, nhưng tôi đă cám ơn người bạn này và quyết định sẽ ở lại và chấp nhận những khó khăn sẽ đến với ḿnh trong tương lai.

            Cũng đêm 29 Cộng quân bắn hỏa tiễn vào Saigon và cả phi trường Tân Sơn Nhất. Pháo binh của sư đoàn Dù, có một đơn vị đóng ngay đằng sau nhà tôi (phía cổng sau cư xá sĩ quan Chí Ḥa), đă phản pháo làm vợ con tôi hoảng sợ. Gần nửa đêm tôi dùng xe Honda chở vợ và con gái lúc đó cháu mới 3 tuổi về nhà ông bà nội cháu ở cư xá Nguyễn Tri Phương, cách nhà tôi chừng 3km. Trên đường Trần Quốc Toản, suôi về phía xa cảng miền Tây, hàng đoàn xe quân đội chất đầy lính với vũ khí đầy đủ đang rút về miền Tây.

            Sáng ra vào tới sở làm, mọi người ai cũng phờ phạc, ngơ ngác. Một số cấp chỉ huy trong Bộ đă biến mất từ mấy ngày trước như Thẩm phán Huỳnh Đức Bửu, tân Tổng Trưởng. Giám Đốc nha Hành Chánh Trung Tá nguyên thuôc lực lượng đặc biệt. Viên cố vấn Mỹ gốc Hoa của Bộ tên là Wang và người nữ thư kư nổi tiếng đẹp nhất Bộ thuộc Nha Bảo Trợ và Mưu Sinh, giờ chót chấp nhận lấy y làm chồng để đựợc y mang ra khỏi nước cùng với y. Hai vị phụ tá Tổng Trường: Cựu Đại Tá Trương Văn Xương, và Trung Tá Dược Sĩ Dương Đ́nh Ḥa và các Giám Đốc khác tất cả c̣n hiện diện đầy đủ.

            10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Cộng quân trên hệ thống truyền thanh và truyền h́nh toàn quốc. Mọi người đều bàng hoàng và hụt hẫng. Lúc đó tôi ở trong tâm trạng của một người như vừa rơi từ mây xanh xuống mặt đất. Thất vọng và chán nản, toàn thân như bị tê liệt, không c̣n phản ứng nào hết. Giữa lúc đó người nhân viên phụ trách quản trị hồ sơ cá nhân các cấp chỉ huy trong Bộ vào gặp tôi để xin lệnh đối phó với những hồ sơ mà anh đang có trách nhiệm quản lư. Cần ghi thêm ở đây là chỉ hai ngày trước khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Cộng quân th́ tôi “bị” bổ nhiệm vào chức vụ Chánh sở Nhân viên Bộ Cựu Chiến Binh. Chức vụ này trước đó khỏang 1 tháng vị Tổng Trưởng tiền nhiệm, Bác Sỉ Hồ Văn Châm, đă kư Sự Vụ Lệnh cử tôi làm nhưng tôi đă mạnh mẽ từ chối không chịu nhận. Lần này với vị tân Tổng Trưởng v́ sợ tôi lại từ chối, vị đàn anh của tôi Tổng Thư Kư Bộ, Đặng Ngọc Liệu, đă làm nghị định bổ nhiệm tôi tŕnh Tổng Trưởng Bửu kư để tôi không từ chối được nữa. Tôi trả lời người nhân viên mẫn cán kia rằng: Anh có thể lấy hồ sơ của chính anh rồi tuy nghi sử trí c̣n lại tất cả cứ để y nguyên tại chỗ. Anh ta thưa e rằng nếu Cộng Sản vào mà hồ sơ cá nhân các cấp chỉ huy c̣n nguyên vẹn sợ có bất lợi cho họ chăng? Tôi trả lời ngay rằng tôi tin là bọn Công Sản không hề biết khai thác các hồ sơ loại đó. Vả lại cũng chẳng có ǵ quan trọng sợ mang đến bất lợi cho họ. Anh cứ theo lệnh tôi mà làm. Điều tôi nói với người nhân viên này rất đúng v́ chỉ ngày hôm sau khi đă kiểm soát toàn Bộ, bọn lính Cộng sản (có lẽ thuộc mặt trận Giải Phóng Miền Nam) quân phục không đồng nhất, đội toàn nón tai bèo. Khi vào lục lọi các tủ hồ sơ ở sở của tôi (chắc là để t́m quư vật), đă tuôn toàn bộ các hồ sơ nhân viên mọi loại xuống sân Bộ và cho hoả thiêu hết.

            Hôm trước sau khi nghe lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh xong tôi vào văn pḥng của Tổng Trưởng, toàn bộ nhân viên các cấp của văn pḥng này đă biến mất, văn pḥng hoàn toàn bỏ trống. Tôi ngồi vào ghế sau chiếc bàn giấy của Tổng Trưởng và dùng chiếc điện thọai dành riêng cho Tổng Trưởng gọi qua Phủ Thủ Tướng ở đường Thống Nhất, lúc đó là khỏang 10 giờ rưỡi sáng ngày 30 tháng 4. Chuông reo rất nhiều hồi mới có người bốc lên, tôi hỏi giới chức nào đầu giây th́ được trả lời là Chủ Sự pḥng văn thư Phủ Thủ Tướng. Tôi hỏi lại là c̣n giới chức cao cấp hơn người dầu giây hay không? th́ được trả lời rằng ông ta chính là cấp chỉ huy cao nhất của Phủ Thủ Tướng c̣n hiện diện tại nhiệm sở lúc đó.

           

         Chán nản tột độ, tôi lấy xe bỏ về nhà bố mẹ tôi v́ lúc này vợ con tôi c̣n ở tại đó. Sau bữa cơm trưa tôi chở vợ con về nhà tôi th́ thấy nhà đang bị một bọn lưu manh phá cửa vào hôi của. Thấy tôi về chúng bỏ chạy tán loạn ra ngoài, một mụ đàn bà chạy sau cùng c̣n ngoái lại nói với tôi rằng chúng tưởng gia đ́nh tôi đă bỏ đi Mỹ rồi nên vào lấy của. Kiểm soát lại đồ đạc tôi phát giác là chúng đă dọn sạch từ Tivi, radio, quạt để bàn, bàn ủi điện, thậm chí mấy hộp sữa đặc có đường của con gái tôi chúng cũng không tha. Tức là tôi hoàn toàn mất hết trừ cái xác nhà và những đồ đạc cồng kềnh như giường tủ, bàn ghế là c̣n nguyên.

           

        Cuộc đổi đời đă thực sự đến với tôi và gia đ́nh tôi từ lúc đó. Vợ tôi một phụ nữ miền Nam sinh đẹp đă hoàn toàn im lặng chịu đựng cùng với tôi từ đó đến nay không hề than văn và trách cứ điều ǵ. Tôi thật sự biết ơn nàng đă chia ngọt sẻ bùi chung lưng gánh chịu mọi hậu qủa đến với gia đ́nh tôi mà phần lớn do sự thiếu suy xét và thiển cận của tôi gây ra đă khiến nàng và cả con tôi đă phải chịu rất nhiều cay đắng cho măi tới cuối năm 1980 hai tháng sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản, tôi đem cả gia đ́nh vượt biển ra đi t́m tự do, đến nay đă hơn 25 năm sống nơi xứ lạ quê người ngồi nhớ lại ngày 30 tháng 4 năm 1975, mọi biến cố như c̣n hiển hiện trước mắt. Gần đây viên cựu Thủ Tướng Việt Cộng Vơ Văn Kiệt tuyên bố rằng việc nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay hàng năm tổ chức kỷ niêm “ngày chiến thắng” 30 tháng 4, 1975 đă làm cho hàng triệu người Việt Nam cảm thấy đau khổ v́ bị gợi lại vết thương xưa mà theo ông ta nay nên quên đi thật sự. Tôi không hoàn toàn tin thật sự trong ḷng ông ta và nhất là bọn đang cầm quyền ở Việt Nam muốn như vậy. Chỉ khi nào lời nói đó phát ra từ giới chức đương quyền và nhất là giới chức thực sự nắm quyền sinh sát (tức là Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam) th́ họa chăng mới là sự thật, ngoại gỉa chỉ là lời nói “cho có”, nói để mà nói cốt để chứng tỏ bọn chúng cũng có ḷng muốn “xóa bỏ hận thù” để t́m sự đoàn kết ngơ hầu xây dựng tương lai cho xứ sở. Nhất là Vơ Văn Kiệt nay chả c̣n quyền hành ǵ th́ nói ǵ th́ nói thực tế chả có kí lô nào hết.

           

            Nh́n vào thực tế ở Việt Nam từ khi Nga Sô xụp đổ, nhất là sau khi thi hành chính sách quản trị đất nước rất ngu xuẩn theo kiểu chúng gọi là “xă hội chủ nghĩa” khiến đưa cả nước thụt lùi về thời chậm tiến cả nửa thế kỷ từ trước. Sau đó v́ muốn tồn tại chúng đă phải chấp nhận thay đổi, ban hành chính sách “cởi mở”, xây dựng đất nước theo cơ chế thị trường, nhưng vẫn cố bám víu cái hơi hướng xă hội chủ nghĩa.

           

            Bây giờ ngồi ở một thành phố văn minh tiến bộ, ở một quốc gia phát triển chưa hề có chiến tranh, nhớ lại 5 năm trước một người bạn thân học cùng lớp đă gửi tặng tác phẩm “Nước mắt trước cơn mưa” của Larry Engelmann mà anh đă dịch và được nhà Tin Biển xuất bản năm 1995 ở San Jose Cali. Trong trang dầu của cuốn sách Nguyễn Bá Trạc, dịch gỉa của cuốn sách, đă ghi thế này:”Thân mến tặng bạn Đặng Gia Thoại, nhớ măi những ngày lê la trên sân cỏ QGHC, và nay lưu lạc bốn phương trời”. Đúng thế chúng tôi xưa cùng học một trường một khoá, cùng mang tâm trạng những người trẻ năng nổ muốn đem hiểu biết và sức lực của ḿnh ra phục vụ đất nước, đă miệt mài đèn sách, đă chấp nhận mọi hiểm nguy, mọi bất trắc đến với bản thân trong suốt 10 năm phục vụ trong guồng máy chính quyền miền Nam Việt Nam. Hậu quả mà chúng tôi nhận được vào cuối đời là nay lưu lạc bốn phương trời sống đời lưu vong.

           

            Dở lại tác phẩm “Nước mắt trước cơn mưa”(NMTCM) (Tears Before the rain, An oral History of the Fall of South of Vietnam của Giáo sư Larry Engelmann) ngay trong phần giới thiệu của nhà báo Giao Chỉ (tức cựu Đại Tá Vũ Văn Lộc), người chủ trương cơ sở Tin Biển ở San Jose, đă viết thế này:”Giữa anh em chúng ta, trong lúc tửu hậu trà dư, lâu ngày gặp lại, ta vẫn thường hỏi nhau rằng thế th́ cái ngày hôm 30 tháng 4 đó anh ở đâu. Và trong mỗi người chúng ta đều có riêng một ngày 30 tháng 4. Phía bên kia chiến tuyến một thời, phe cộng sản Việt Nam, cũng có riêng của họ những ngày 30 tháng 4. Và người hoa Kỳ cũng có những ngày 30 tháng 4 theo cách nh́n của đồng minh”.

           

            Trong phần trả lời giáo sư Engelmann của viên Phó Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam năm 1975 Wolf Lehmann đă nói về các Dân Biểu Mc Closkey, Bella Abzug, Millicent Fenwick, Don Fraser, John Flynt như thế này:” Tôi biết Mc Closkey, cũng như vài người nữa trong phái đoàn, ông thích quan trọng hoá vấn đề. C̣n mấy người kia, điển h́nh là Fraser và Abzug, chuyến viếng thăm này (Phái đoàn Dân Biểu Nghị Sĩ Hoa Kỳ viếng thăm Việt Nam từ 27 tháng 2 năm 1975 đến 2 tháng 3 năm 1975) đối với họ giản dị chỉ là cơ hội để thổi phồng phong trào chống Việt Nam tại Hoa Kỳ.”

           

            Trong phần kế tiếp ông nói thêm rằng: Ông ta (Mc Closkey) và những người khác trong phái đoàn không ngớt nói chuyện Nam Việt Nam vi phạm nhân quyền v́ “đă bỏ tù những tên khủng bố đặt bom”, thế là vi phạm nhân quyền (!)

           

            Ở phần phát biểu của Lace Wright, Trưởng Pḥng chính trị toà Dại Sứ Hoa Kỳ ở Saigon năm 1975, (nay hiên là chồng của cựu phu nhân của cố Giáo Sư Nguyễn Văn Bông, cố Viện Trưởng HV/QGHC Saigon xưa), khi nói về giải pháp chính trị muộn màng cho miền Nam Việt Nam ông Wright đă nói rằng:”Tôi không dám chắc có ai biết. Nhưng bấy giờ, chúng tôi đă biết được một điều. Đó là trong trí ông (Đại Sứ Martin), ông có cái hy vọng sẽ thương thảo như một giải pháp cứu văn danh dự. Mặc dù giải pháp này chẳng hơn ǵ một cuộc thất trận được che đậy, nhưng như thế ít nhất c̣n có thể cho phép thực hiện di tản, giúp những người cần ra khỏi nước có thể đi thoát. Chúng ta cũng biết cái hy vọng đó chỉ là hy vọng hăo huyền, nhưng chính hy vọng ấy đă từng ở trong trí ông (Đại Sứ Mỹ) lúc ông nỗ lực đối phó t́nh h́nh”. Điều này cho thấy là qủa thật vào những ngày sau chót của miền Nam Việt Nam có chuyện “một giải pháp chính trị“được đề cập đến, không phải chỉ từ phía Toà Đại Sứ Pháp, từ phía phái đoàn kiểm soát đ́nh chiến Ba Lan mà ngay cả ở phía Đại Sứ quán Hoa Kỳ nữa.

           

            Trong một đoạn khác, đoạn kể của kư gỉa Mike Marriott thuộc hăng tin CBS kể lại với nhan đề “Bọn Mỹ phản bội” Mike đă kể lại là anh đă bị một Đại Úy Cảnh Sát Saigon chĩa súng vào đầu anh lẫy c̣ 3 lần nhưng có lẽ v́ quá xúc động, sau khi đă thét vào mặt anh rằng “Bọn Mỹ phản bội! Bọn Mỹ phản bội! Bọn Mỹ phản bội! Bọn Mỹ phản bội!” và quên mở khoá an toàn cây colt 45, khi anh dùng máy quay phim thu h́nh cảnh viên Đại úy này chĩa súng định bắn vào chiếc taxi bất tuân lệnh anh ta. Cuối cùng người kư gỉa CBS đă dùng trực thăng Jolly Green Giant (CH-53) (loại trực thăng lớn h́nh qủa chuối chuyên dùng chuyển quân và vật liệu trong chiến tranh Việt Nam) bay ra chiến hạm Blue Ridge nằm ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Anh kư gỉa này cho hay: Tất cả các viên chức toà Đại Sứ, cũng như nhân viên Trung Ương T́nh báo và nhân viên văn pḥng Tuỳ viên Quân Sự đều ở trên chiếc Blue Ridge. Họ lúng túng sỉ vả rằng chính giới báo chí đă gây ra thất trận. Ngay lúc ấy, họ đă nói nước Mỹ thua trận v́ chúng tôi. Viên Trưởng nhiệm sở Trung Ương T́nh Báo Thomas Polgar là kẻ nói ra nhiều nhất. Ông ta không ưa tôi. Tướng Kỳ cũng có mặt trên tầu Blue Ridge. Ông ta vẫn vênh váo. Vẻ tự măn của ông ta làm bọn tôi phát bịnh. Ông ta là triệu phú, một trong những người nhũng lạm nhất hạng. Cố nhiên ông ta ra khỏi xứ với những người thân tín của ông ta (tranng 260 NMTCM).

           

            Trong một trang khác một kư gỉa khác Fox Butterfield của báo New York Times, kư gỉa này vốn là một người thuộc nhóm thiên Tả, người đă tiếp tay lập nhóm TOCSIN sau đổi tên là SDS (Students for a Democratic Society=Sinh viên tranh đấu cho Xă Hội Dân Chủ) đă kể lại chuyến viếng thăm Hanội vào năm 1969 cùng với ông nội của anh là Cyrus Eaton (một nhà tỷ phú) như sau: Chuyến đi này đă ảnh hưởng tôi theo một chiều hướng ngược lại với những người khác. Sau khi đọc nhiều bài báo của Harrison Salisbury (người từng tiếp tay thổi phồng những thiệt hại tại miền Bắc Việt Nam nhất là tại Hànội do nhà cầm quyền công sản Hànội công bố), tôi đinh ninh sẽ chứng kiến nhiều cảnh tàn phá v́ các cuộc dội bom ở Hànội. Thực tế tôi không t́m thấy ǵ. Tôi trở nên hoài nghi. Tôi không ngừng yêu cầu người ta đưa tôi đi xem những chỗ bom tàn phá, nhưng chẳng ai có thể làm được chuyện đó. Tôi thấy những thiệt hại do bom gây ra không đụng chạm ǵ đến thành phố. Nó dừng lại ở ngoại ô. Như thế những tuyên bố của Hoa Kỳ về việc đánh bom trên căn bản là đúng. Một số thiệt hại nhỏ người ta chỉ cho tôi mà nói là do bom gây ra, thực tế chỉ là do chính rốc-kết của chính họ bắn lên, rồi rơi xuống thành phố mà thôi. Tôi nghĩ là Salisbury và nhiều kư gỉa khác đă đánh lừa độc gỉa với những tin tức sai lạc. Các thông tín viên sau này sang bên ấy (miền Bắc Việt Nam) vào những ngày cuối của cuộc chiến cũng nói như thế.

           

         Anh nói thêm rằng kết luận do tôi thu lượm được trong cuộc thăm viếng Hànội là tôi đă tiếp xúc với một chế độ cực kỳ độc đoán. …họ đă quyết tâm theo đuổi chiến tranh, bất kể đến việc phát triển xứ sở. Các thủ lănh Bắc Việt không quan tâm ǵ đến phát triển kinh tế, không quan tâm ǵ đến sự no đủ của dân chúng. Họ chỉ quan tâm đến một mục tiêu quốc gia duy nhất, đó là phải nắm được toàn bộ quyền hành (trên toàn lănh thổ). Anh c̣n cho hay là trong chuyến đi này anh đă gặp Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và độ một nửa tá các giới chức cao cấp khác của Hànôi và anh cho hay: Họ là những người vừa cứng rắn vừa thông minh. Họ không quá quan tâm đến con người. Tôi có một ấn tượng mạnh mẽ về quyết tâm đạt đến mục đích của họ, đó là chiến thắng miền Nam, thống nhất xứ sở. Họ kiên định chấp nhận trả bất cứ gía nào để đạt mục tiêu ấy. Trong một đoạn kế tiếp kể về việc anh đ̣i được cung cấp một danh sách tù binh Mỹ và bị đáp lại với cái nh́n nhạt nhẽo và hỏi: Tại sao người Mỹ phải quan tâm về chuyện này. Sau đó một nhân viên ngoại giao Hung Gia Lợi cho anh hay là “Người Bắc Việt giản dị không hiểu tại sao người Mỹ lại quan tâm đến các tù binh của ḿnh. Hăy nh́n chung quanh mà xem. Anh có thấy một thương binh nào hay chăng?”. Câu nói làm kư gỉa Butterfield bàng hoàng, quả thật tại Hànội anh không hề thấy bất cứ một người què cụt nào. Anh hỏi tại sao? Viên chức ngoại giao người Hung trả lời:”nếu suy nghĩ th́ anh sẽ thấy câu trả lời hết sức giản dị. Đường ṃn Hồ Chí Minh là con đường một chiều. Tất cả những người được gửi đi sẽ chiến đấu đến chết, hoặc là sẽ bị bỏ lại đấy. Không hề có một ai trở về.”

           

            Rồi nữa khi nói chuyện với Lê Đức Thọ và Phạm Văn Đồng về các tù binh chiến tranh, họ chăm chăm nh́n tôi với cặp mắt lạnh lẽo mà hỏi:” Anh nói cái ǵ? Hai, ba trăm con người à ? Kể ǵ chuyện ấy. Chúng tôi tổn thất cả 200,000 người ở miền Nam, và sẽ không bao giờ gặp họ nữa, vậy có ai quan tâm không ?” Thái độ ấy rất nhẫn tâm, và cùng một lúc, cũng làm người nghe nghẹt thở. Nó bật sáng những ngọn đèn trong đầu óc người ta. Sau này tôi bảo:”Tất nhiên, làm thế nào họ có thể hiểu tại sao chúng ta (người Mỹ) quan tâm đến vài trăm tù binh, trong khi họ không có cách ǵ biết được số phận hàng triệu người của họ?” Đời sống của họ là như thế. Tôi tự bảo:”Chúa ơi kinh khủng quá”. Và trước khi đi Hànội anh ta là một người chống chiến tranh. Lúc trở về anh ta trở thành người chống Bắc Việt. (NMTCM 263-267)          

             

            Trong đoạn kể của Keyes Beech kư gỉa của nhật báo Chicago Daily News, một kư gỉa lớn tuổi từng là Thủy quân Lục chiến ở mặt trận Thái B́nh Dương thời Thế chiến thứ 2, anh này đă thốt lên: Khi bản hiệp định Ba Lê được công bố, ngay đám phóng viên phản chiến -  Đám phóng viên trẻ - cũng phải thốt lên rằng:”Đây qủa là chuyện bán đứng”. Tất nhiên đó là chuyện bán đứng. Cho đến thời điểm này (1973) chúng ta (người Mỹ) chỉ quan tâm có một việc duy nhất thôi: Làm sao lấy được tù binh về. Chúng ta (người Mỹ) cóc cần chuyện ǵ khác. Đúng vậy. Và để đổi lại việc lấy tù binh về, chúng ta hợp thức hoá cho sự hiện diện của quân Bắc Việt tại miền Nam Việt Nam, dàn xếp cho Bắc Việt có thể tùy thích đánh thắng người miền Nam. Đó chính thực là sự khởi đầu của một sự kết liễu. Tôi không hề thấy Hoa Kỳ đặt cho miền Bắc một mối đe dọa nào sau đó.

           

            Trong một đoạn khác của cuốn sách khi nói về Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh Vùng I chiến thuật (NMTCM trang 61) dân biểu Hoa Kỳ Mc Closkey đă nghe Tướng Trưởng nhắn lời nói với cả Tổng Thống Ford và Kissinger rằng:”Qúi ông không cách ǵ thắng nổi. Địch có thể phá thủng bất cứ chỗ nào.” để diễn tả t́nh h́nh chiến trường vùng I do ông chịu trách nhiệm vào tháng 3 năm 1975. Dân biểu Closkey vốn từng là Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến nên khi nghe Tướng Trưởng vừa nói vừa chỉ vào bản đồ trận địa và bảo là “không có cách ǵ” th́ hiểu rơ ngay. Ông Trưởng lúc đó đang có 3 sư đoàn bộ binh trong tay cho hay là ít nhất ông cần có thêm 3 sư đoàn nữa mới tạm đủ sức pḥng thủ vùng trách nhiệm của ông. Trong khi đó Tổng Thống Thiệu lại vừa ra lệnh rút toàn bộ lực lương Dù và Thủy Quân Lục Chiến về để bảo vệ Saigon, tức là lấy hết lực lượng thiện chiến của ông Trưởng th́ sự kiện Tướng Trưởng cho hay là không có cách ǵ cản được địch quân, chúng có thể chọc thủng pḥng tuyến của quân đoàn I bất cứ ở chỗ nào là một sự thật không thể chối căi.

           

            Trong một đoạn khác của cuốn sách, cựu Đại Tá Lê Khắc Lư, Tham Mưu Trưởng Quân Khu II, theo tiết lộ của ông th́ ông đă từng bị chính vị chỉ huy trực tiếp của ông là Tướng Phạm Văn Phú cố t́nh bỏ rơi hai lần nhưng sau cùng ông lại được người Mỹ đưa đi vào ngày 25 tháng 4 năm 1975 và Tướng Phú th́ ở lại vĩnh viễn. Khi phát biểu về t́nh h́nh nhân sự vùng II, ông Lư cho hay là Tướng Phú có mâu thuẫn với hai vị tướng khác dưới quyền là các Tướng Trần Văn Cẩm, Phụ Tá hành quân của Tướng Phú và Tướng Phạm Duy Tất, người được giao chỉ huy chiến thuật trong cuộc rút lui quân đoàn II theo liên Tỉnh lộ 7B xuống vùng duyên hải. Ông Lư cũng cho hay là Tướng Phú cử Trung Tá Trần Tích làm Trưởng Pḥng Tổng Quản Trị Quân Đoàn II, Trung Tá Tích làm việc bổ nhiệm các cấp chỉ huy trong quân khu rất chặt chẽ với vợ của Tướng Phú. Ông Lư cũng đă nghe rất nhiều chuyện về việc người ta đưa tiền cho vợ Tướng Phú để mua chức vụ. Những chuyện này làm ông rất nản, làm mọi người xuống tinh thần, nhưng ông chả làm ǵ được. Báo cáo cho ông Thiệu chăng? Chẳng có kết quả ǵ v́ chính ông Thiệu cũng đă bị mua chuộc.

           

             Về cuộc triệt thoái của Quân Đoàn II ông Lư kể lại rằng: Sau khi bay xuống Cam Ranh (ngày 14 tháng 3 năm 1975) gặp ông Thiệu, đêm hôm ấy Tướng Phú triệu tập một buổi họp tại Pleiku. Hiện diện trong buổi họp có: Tướng Phú, Tướng Cẩm, Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, Tướng Tất (lúc đó c̣n là Đại Tá) và Đại Tá Lư. Vừa bước vào pḥng họp, điều đầu tiên ông Phú nói là ông đă được ông Thiệu chấp thuận thăng chức cho ông Tất. Ông gắn sao cho ông Tất. Mọi người vỗ tay.

           

             Liền sau đó Tướng Phú loan báo:”Chúng ta sẽ triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum!”

 

            Nghe Tướng Phú nói vậy Đại Tá Lư mở mắt thật lớn, nghĩ rằng đă nghe lộn. Nhưng ông Phú giải thích: Chúng ta rút lui chiến thuật để tái phối trí chiếm lại Ban Mê Thuột. Ông Cẩm, ông Sang, ông Tất và tôi (Đại Tá Lư) đều ngồi sững. Chúng tôi véo nhau. Tôi tự nghĩ:”Cần phải hỏi xem chúng tôi sẽ triệt thoái cách nào?” Tôi lên tiếng hỏi. Ông Phú đáp:”Qúy ông sẽ sử dụng đường 7B”. Phản ứng tức khắc của tôi là bảo:”Thưa Thiếu tướng, không thể được!” Ông Phú bảo:” Tổng Thống đă quyết định. Chúng ta không có sự lựa chọn, bởi v́ chúng ta cần đạt yếu tố bất ngờ với địch quân.”

           

            Tôi bảo:”Thưa Thiếu tướng tôi sống khá lâu ở đây. Tôi biết rất rơ vùng này. Đường 7B đă bỏ phế từ lâu. Lực lượng Đặc biệt Mỹ, Lực lượng Đặc biệt Việt Nam và cả địch quân đều đă hành quân trong khu vực ấy. Họ đă gài ḿn khắp nơi. Nếu phải triêt thoái với các quân dụng nặng nề, trước tiên phải khai quang ḿn trên đường, nay ai c̣n có thể biết ḿn đặt ở chỗ nào? Rồi lại phải sửa đường, làm ǵ có thời gian sửa chữa? Ngoài ra khi chúng ta quyết định triệt thoái là mọi người sẽ biết, chẳng c̣n ǵ bất ngờ nữa! Xin đề nghị Thiếu Tướng nếu phải triệt thoái, hăy sử dụng quốc lộ 19 mà đi thẳng. Sẽ phải chấp nhận một số tổn thất, nhưng như thế ta mới có thể qua được.”

           

            Tướng Phú bảo:”Không! Tất cả quyết định rồi! Quư ông không lựa chọn ǵ nữa. Sáng mai tôi bay đi Nha Trang. Quư ông sẽ có 3 ngày để lo triệt thoái!” Tôi bảo:”Thưa Thiếu Tướng, làm sao được? chúng ta có bao nhiêu binh sĩ, bao nhiêu là đồ tiếp liệu và quân cụ. Phải ít nhất ba tuần chúng tôi mới hoạch định nổi.”

 

Ông ấy bảo:”Tất cả những điều ấy cũng đă quyết định xong.”Tướng Cẩm và tôi bèn hỏi thế c̣n Địa Phương Quân, Nghĩa quân, các nhân viên hành chánh xă, tỉnh và dân chúng th́ sao? Tướng Phú nói:” Quư ông đừng phải lo ǵ cho họ cả. Quên đi!” Ông Phú c̣n cho lệnh cấm không thông báo cuộc rút binh cho người Mỹ. Nhưng sau đó với vai tṛ người chỉ huy cuộc rút lui, Tướng Tất phụ trách lực lượng chiến thuật, Đại Tá Lư đă báo cho phía Hoa Kỳ, Trung Ương T́nh Báo và Tổng Lănh Sự Hoa Kỳ. Chính do hành động này mà ít hôm sau tên ông Lư và gia đ́nh ông được người Mỹ xếp vào hàng ưu tiên 1 cho bốc đi khỏi Việt Nam sang thẳng đảo Guam.

 

Ông Lư cảm thấy vô cùng xấu hổ khi thuật lại quyết định của Tướng Phú như trên cho GS Engelmann.

Trong phần nói tiếp về Tướng Phú khi về đến Saigon, gặp Tướng Phú, lời đầu tiên Tướng Phú nói với Đại Tá Lư là:”Lư ơi, chúng ta bị phản bội rồi.” Ông Lư hỏi lại:”Bởi ai vậy?” Ông Phú trả lời:”Bởi Thiệu. Thiệu đă cho chúng ta vào bẫy. Ông ta đă đẩy mọi chuyện cho chúng ta. Ông ta bảo tất cả là lỗi chúng ta. Chính ông ấy ra lệnh cho chúng ta rút quân, bây giờ ông ấy lại tuyên bố mọi sự đều do lỗi chúng ta cả!”

Việc rút bỏ Vùng II chiến Thuật đă làm xẩy ra một chuỗi gẫy đổ dây chuyền kiểu domino, khiến toàn bộ cơ cấu pḥng thủ của miền Nam Việt Nam hoàn toàn xụp đổ chỉ trong một thời gian không đầy hai tháng (55 ngày).

 

Trong khi đó khi viết về chiến tranh Việt Nam trong cuốn Hoa Xuyên Tuyết, (HXT) Cựu Đại Tá Bắc Việt Bùi Tín, nguyên Phó Tổng biên Tập báo Nhân Dân cơ quan ngôn luận chính thức của đảng cộng sản Việt Nam đă mô tả nhà nước Bắc Việt như sau:”Bộ máy lănh đạo và nắm chính quyền lúc ấy hầu hết là trong sáng về đạo đức, tận tụy với nhân dân, ḷng dân do đó rất yên tâm. Đất nước (Bắc Việt) hầu như không có trộm cắp và hối lộ (HXT trang 175).

 

Rồi ở trang 196 khi nói về Nguyễn văn Hảo, Phó Thủ Tướng đặc trách về kinh tế của chính phủ Saigon, người cho hay là Mỹ đă nhiều lần đ̣i rước qua Hoa Kỳ nhưng đă từ chối nhất định ở lại để góp phần xây dựng đất nước. Nhưng ông Hảo không được cộng sản sử dụng cuối cùng chán nản đă bỏ đi và hiện nay đang sống ở Ta-Hi-Ti và giúp cho chính phủ ở đó về kinh tế.

 

Ông Bùi Tín cũng ghi lại là chính ông Hảo đă báo cho ông Tín hay vào buổi chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ông Hảo đă cùng viên chức ở ngân khố (Bùi Tín chắc lầm Ngân hàng quốc gia ở bến Chương Dương với Tổng ngân Khố ở đường Nguyễn Huệ) đă giữ lại 16 tấn vàng không cho cánh ông Thiệu mang đi. Tôi (Bùi Tín) liền báo tin ra Hànội. Sau 2 ngày Hànội cho người vào nhận đủ. Nhưng rồi số vàng ấy đă không được sử dụng hợp lư để sinh sôi ra v́ định kiến với ngân hàng ngoại quốc (thực sự là dốt không hiểu thủ tục kư thác với ngân hàng ngoại quốc). Số vàng ấy được giữ rất kỹ (?) kiểu nông dân, xà xẻo dần để chi tiêu (hay chia chác giữa các giới chức cao cấp), cuối cùng đă hết sạch!

 

Trong phần tổng kết về cuộc chiến Việt Nam hai mươi năm sau ngày sụp đổ miền Nam Việt Nam, GS Engelmann đă ghi lại rằng Mỹ đă cung cấp tổng cộng 24 tỷ Mỹ kim để viện trợ cho miền Nam Việt Nam, trực tiếp chi tiêu 165 tỷ Mỹ kim vào các nỗ lực chiến tranh. Hơn 3 triệu lượt quân nhân Mỹ đă sang Việt Nam, 58,000 đă bỏ ḿnh tại Việt Nam. Hơn 303,000 quân nhân Mỹ đă bị thương.

 

Mỹ đă dội xuống Việt Nam một số lượng bom nhiều gấp 3 lần tổng số bom Mỹ đă dùng trong suốt thời Đệ Nhị Thế chiến. Chừng 3,250,000 tấn đă dội xuống miền Nam Việt Nam và trên các trận địa ở miền Nam Việt Nam. Mỹ cũng đă sử dụng một khối lượng thuốc nổ tương đương với số lượng 3,250,000 tấn bom ấy. Tại miền Bắc Việt Nam, Mỹ đă dội 1,000,000 tấn bom (không phải 3 triệu như Bùi Tín đă ghi trong sách HXT của ông ta).

Mỹ cũng đă ném 400,000 qủa bom na-pan.

Tính đổ đồng th́ Mỹ đă dùng 1,000 cân anh thuốc nổ cho mỗi đầu người bất kể nam phụ lăo ấu trên lănh thổ Việt Nam.

Kết qủa là dă tạo ra 10 triệu người tỵ nạn tại miền Nam Việt Nam. Hơn 580,000 thường dân bị sát hại trong chiến cuộc, 3 triệu người bị thương.

Riêng chính quyền miền Nam Việt Nam bị mất 250,000 chiến sĩ, nửa triệu người bị thương (với hiểu biết v́ làm ở Bộ Cựu Chiến Binh VNCH cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 người viết bài này biết rằng số thiệt hại nhiều hơn, đó là 350,000 tử sĩ. 550,000 thương phế binh và khoảng 750,000 cô nhi qủa phụ).

Miền Bắc công bố thiệt hại 1 triệu quân chiến đấu tử trận tại miền Nam Việt Nam, 600,000 bị thương và hơn 300,000 hiện đến nay vẫn ghi là mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ.

C̣n khối lượng đạn đại bác, hỏa tiễn các loại, thuốc nổ quân Bắc Việt đă sử dụng trong cuộc chiến đến nay chưa hề có một thống kê nào được công bố, nhưng nh́n vào con số 1 triệu quân tử trận tại miền Nam Việt Nam chúng ta cũng có thể đoán là khối lượng đạn dược mọi loại Bắc quân đă dùng chắc hẳn ít lắm cũng bằng một nửa khối lượng Mỹ đă xài là tối thiểu, tức là ít nhất th́ cũng phải đạt mức 1 triệu 750,000 tấn trở lên là giá chót.

Tóm lại là 30 mươi năm đă qua, mọi chuyện nay đă thành “dĩ văng”, sự xụp đổ của miền Nam Việt Nam do các cấp lănh đạo bất tài của Việt Nam gây ra một phần, do sự phản bội của đồng minh Hoa Kỳ một phần, do tham vọng của người công sản Việt Nam một phần nữa.

Nười cộng sản khi xưa hănh diện có một guồng máy chính quyền trong sáng và sạch sẽ. Nay 30 năm sau cuộc chiến họ có một nhà nước tham nhũng và chuyên hối mại quyền thế thuộc hàng nhất nh́ ở trên thế giới.

Liệu cái nhà nước thối nát đó có chịu cải tổ thực sự, thanh lọc thực sự hay cứ tiếp tục đến một mức người dân trong nước sau quá nhiều năm thống khổ chịu không nổi nữa sẽ nổi dậy lật đổ bọn tham nhũng bất tài để tạo dựng một Việt Nam thực sự dân chủ và xây dựng một Việt Nam phát triển và phú cường theo gương các nước hàng xóm như Phi Luật Tân lật dổ chính quyền Marcos, Indonesia lật đổ chính quyền Suharto chăng ?

Vết thương do cuộc chiến kéo dài suốt 30 năm (1945-1975) đă 30 năm nữa đă qua đi, phần lớn những kẻ chủ chốt liên hệ đến cuộc chiến ghi trên nay đă chết hết, sự thiệt hại rốt cùng về phần nhân dân Việt Nam là nhiều hơn cả. 100 năm nữa lịch sử sẽ phê phán ai là kẻ có tội ai là người có công với đất nước, nhưng ngày 30 tháng 4 năm 1975 khó thể nào là một ngày kỷ niệm oai hùng của đất nước được vậy.

 

                                                                                                        Thanh Văn